Tôn giáo và tư tưởng Ấn Độ (P2)

Đạo Phật ra đời cách đây khoảng 2500 năm, là một trong những tôn giáo có tư tưởng sâu sắc và tạo ra sức ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Người khai sinh ra Phật giáo, Đức Phật, hay bậc Giác ngộ nguyên là một Hoàng tử con một vị Vua thuộc bộ lạc Shakya, tại tiểu quốc Kapilavatsu, chân dãy Hymalaya. Cuộc đời và hành trình tu đạo của Đức Phật thê hiện những suy tư sâu sắc, đầy trắc ẩn của ngài về cõi nhân sinh, điều đó đã được phản ánh rõ nét qua tư tướng của Phật giáo.
Phật giáo hiện có hai dòng chính: Phái Tiểu thừa (Hynayana) hay Phật giáo nguyên thuỷ và phái Đại thừa (Mahayana) hình thành đầu Công nguyên.
Đạo Phật ra đời trong giai đoạn suy vi của đạo Hindu, triết học Phật giáo hướng đến những điểm gần gũi với con người chứ không quan tâm nhiều đến những vấn để siêu hình học cao siêu như vũ trụ, sự sáng thế, đấng tối cao…
Mặc dù tin theo và sử dụng hai khái niệm quan trọng trong Hindu giáo gồm: Nghiệp (karma) và Luân hồi (samsara) nhưng điểm chính yếu trong tư tướng Phật giáo là một luận thuyết mới mẻ hoàn toàn: Tứ Diệu đế, hay bốn Chân lý cao cả, xây dựng dựa trên quan điểm về nỗi khổ của đời người. Theo đức Phật, con người sinh ra là đã phái đón nhận những khổ đau không thể tránh khỏi, những đẹp đẽ của sự sông, niềm vui rồi cũng phải nhường chỗ cho sự tất yếu của bệnh tật, tuổi già và cái chết. Bởi vậy, đi tìm căn nguyên nỗi khổ, tu tập để loại bỏ nó là con đường mà Phật giáo hướng tới.
Tứ diệu đê gồm các chân lý: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.
Khổ đế giải thích về nỗi khổ. Phật cho rằng trong cõi nhân sinh từ những điều tất yếu như sinh ra, già nua, bệnh tật, chết đi cho đến những ràng buộc, va chạm đời sống ngẫu nhiên làm ta không như ý, bị thất vọng đểu là khổ.
Tập đế, hay còn gọi là Tập khổ đế chỉ ra nguyên nhân của sự khổ, đó chính là dục vọng. Dục vọng làm cho con người cố gắng chiếm lấy mọi thứ cho bản thân để thoả mãn những cảm giác bản nãng, tham vọng cá nhân, gây xung đột, tạo nghiệp chướng khiến cho người ta cứ mãi chìm đắm trong vòng luân hồi sinh tử.
Diệt đế, tức Diệt khổ đế khẳng định việc dẹp bỏ tham vọng sẽ giải thoát con người khỏi nỗi khổ để tới trạng thái Nivarna (Niết bàn) dứt khỏi cõi sinh tử cũng như mọi ràng buộc, lo nghĩ. Nivarna thể hiện ở cả cuộc sống và cái chết. Với cuộc sống đạt đến Niết bàn chính là có được sự thông thái, thanh khiết, yên tĩnh trong tâm hồn không còn bị chi phối, tác động bởi yếu tố ngoại cảnh nào. Còn đối với cái chết, có được Nivama tức là không còn tái sinh kiếp khác đề bị cuốn vào vòng luân hồi muôn đời nữa.
Đạo đế là phương pháp mà đức Phật chỉ ra cho con người giải thoát khỏi nỗi khổ đến với Nivarna. Phương pháp đó được thực hiện bằng việc tu tập Bát chính đạo, tám con đường chân chính, gồm: Chính kiến (hiểu biết đúng), chính tư duy (suy nghĩ đúng), chính ngữ (lời nói thật thà, cẩn trọng), chính nghiệp (hành động đúng), chính mệnh (kiếm sống lương thiện), chính tinh tiến (chăm chỉ cô gắng tiến bộ), chính niệm hướng đến điều thiện, chính đáng), chính định (xác định tư tưởng cho đúng để giác ngộ). Khác với đạo Hindu, có nhiều con đường tiếp cận sự giải thoát, mà chỉ có con đường thứ ba thực sự dành cho đại chúng, toàn bộ Bát chính đạo của Phật giáo là dành cho mọi người không phân biệt đẳng cấp, giới tính của họ. Điều này thể hiện quan điểm coi trọng sự bình đẳng trong tư tưởng Phật giáo.
Trên tổng thể, Phật giáo là một tôn giáo xây dựng dựa trên tình thương, lòng trắc án và sự bình đẳng, vì vậy nó có sức lan toả rất mãnh liệt cũng như có ảnh hưởng lớn đến lịch sử văn hoá và quá trình phát triển xã hội không chỉ của Ân Độ mà còn nhiểu quốc gia khác trong không gian tồn tại của đạo Phật.

Đạo Jaina

Đạo Jaina, còn gọi là Kỳ na giáo hay đạo Jain (Jainism) có lịch sử phát triển rất lâu đời đi theo phương pháp tu khổ hạnh vốn tách ra từ tôn giáo thời Veda. Kinh sách của đạo Jaina mô tả đạo được thành lập bởi một hệ hai mươi bốn đời Tirthankara bắt đầu từ một thời kỳ rất xa xưa. Tuy vậy, các học giả ngày nay hầu như đều thống nhất rằng, người có công tạo dựng hình hài, tư tưởng hoàn chỉnh cho đạo Jaina là Mahavira vị Tirthankara thứ 24.
Về giáo lí, đạo Jaina cũng tin vào các khái niệm nghiệp (karma) và luân hồi (samsara) và hướng đến giải thoát (moksa) nhưng cách hiếu và thực ảnh có khác biệt ít nhiều so với đạo Hindu và đạo Phật. Trong triết lý cúa đạo Jaina, nghiệp (karma) có nhiều dạng, tốt và xấu nhưng đều là cầm tù linh hồn trong vật chất. Tín đồ đạo Jaina tin tưởng rằng, bằng quá trình tu khổ hạnh và thiền định, sống một cách thuần khiết thì sẽ loại trừ được karma, đạt đến sự giải thoát khỏi luân hồi để tồn tại trong một trạng thái hoàn hảo (siddha).
Phương pháp tu khổ hạnh và thiền định cũng như lối sống của tín dồ đạo Jaina được thể hiện trong tư tưởng ba điều gồm: Samyagdarsana (niềm tin đúng), Samyagyana (hiểu biết đúng) và Samyakcharitra (hành vi đúng). Trong ba điều này là một loạt các chỉ dẫn, giới luật cho tăng sĩ, tín đồ lấy làm phương châm tu luyện và cư xử. Tổng thê toát lên quan niệm hoàn thiện con người thông qua sống khổ hạnh, thanh khiết, hạn chế mọi tham vọng. Nhưng nổi bật nhất là lời thề Ahimsa để cao tinh thần chính của đạo Jaina là không bạo lực ở cả hai khía cạnh: không sát sinh và không gây tổn thương cho người khác bằng sức mạnh cũng như lời nói xấu hay ý đồ xấu.
Nhìn chung, đạo Jaina có tư tưởng nằm giữa đạo Phật với các phái tu khổ hạnh của đạo Hindu.