Tôn giáo và tư tưởng Ấn Độ (P1)

Văn hoá Ấn Độ cực kỳ đa dạng do chắt lọc được tinh hoa từ nhiều nguồn bản địa cũng như luồng ảnh hướng từ bên ngoài. Lịch sử phát triển của văn hoá An Độ gắn liền với những lần tổng hợp, tiếp nhận, đồng hoá các giá trị văn hoá. Trong văn hoá An Độ, dấu ấn tôn giáo rất sâu đậm. Hiện Ân Độ có 8 tôn giáo chính, trong đó ba tôn giáo có vai trò chủ đạo trong dòng chảy văn hoá Ân là đạo Hindu, đạo Hồi và đạo Phật.
Ảnh hướng của đạo Hindu, đạo Phật và đạo Hồi thê hiện trong mọi mặt đời sống văn hoá của người Ân, từ tổ chức xã hội, lối sống cho đến văn học, nghệ thuật, trong đó có kiến trúc. Tuy nhiên, ảnh hướng nhiều nhất đến hệ tư tướng của đất nước này là đạo Hindu và đạo Phật. Trong hai tôn giáo này, triết học và tín ngưỡng hoà trộn với nhau không tách rời, bởi vậy nó ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của người Ân.Theo Will Durant, “người Ân không coi triết học là một môn tiêu khiển hoặc đê trang sức trí óc mà coi nó là ích lợi bậc nhất, cần thiết cho đời sống hàng ngày” (Will Durant – Lịch sử văn minh Ấn Độ – NXB Văn Hoá – 1996).

Đạo Hindu

Đao Hindu không có một người sáng lập cụ thể, được cho là ra đời vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên. Đạo Hindu không có Giáo chủ cũng như tổ chức Giáo hội chặt chẽ, nhưng sức mạnh của nó ăn sâu vào cơ cấu xã hội Ân ớ các mặt: phân chia đắng cấp, nghi lễ truyền thống, cách sinh hoạt. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ngoài tư cách là một tôn giáo, Hindu còn là một “phương thức sống”.
Nội dung tư tướng của đạo Hindu thể hiện chủ yếu trong các kinh Veda, gồm cả kinh Upanishad. Các kinh điển này được sáng tác bời không chỉ bởi giới tâng lữ (Brahman), quý tộc (Kshatrirya) mà còn cả những người bình dân qua nhiều thế kỷ. Vai trò quan trọng nhất trong hệ thống kinh sách Hindu giáo thuộc về bộ kinh Upanishad. Người ta cho rằng “Bộ kinh Upanishad là một phần trong kinh Veda và là nền tảng thực sự của Hindu giáo” (P. R. Rao – Indian Heritage and Culture. NXB Sterling – 1989). Thậm chi, với những luận thuyết giải thích các quan điểm về sáng thế, về bản ngã, linh hồn, sự giải thoát và nghiệp (karma). . . bộ kinh này còn được đánh giá là “khới nguồn của toàn bộ tư tướng triết học Hindu” (P. R. Rao – Sách đã dẫn).
Tư tưởng của Hindu giáo rất phức tạp, nhưng chúng ta có thể hiểu nó qua những khái niệm chính, bao gồm: Atman, Brahman, Karma, Samsara, Dharma và Moksha.
Brahman là linh hồn vũ trụ, là thực tại duy nhất và phổ quát của sự vật, hiện tượng theo quan niệm Hindu. Triết học Hindu cho rằng “trong toàn vũ trụ, từ cái vô cùng nhỏ đến vô cùng lớn, mọi tạo vật đều chỉ là biểu hiện của một Brahman duy nhất” (Lương Duy Thứ, Phan Thu Hiền, Phan Nhật Chiêu – Sách đã dẫn). Hơn thế nữa, Brahman “Vượt lén trên cá thể và loại thể, vượt lên trên thiện và ác, vượt lên trên mọi sự phân biệt, mọi
đặc tính, mọi thị dục, mọi cứu cánh” “là nhân và quả, ỉà bản thể bí mật và vô cùng của vũ trự” (Will Durant – Sách đã dẫn). Atman là khái niệm chỉ linh hồn riêng hay bản ngã, hay có thể coi là phần Brahman trong mỗi đơn thể và trở về nhập với Brahman khi cái vỏ vật chất bị mất đi hoặc được giải phóng.
Xét về bản chất Brahman và Atman là một, tuy nhiên, đối với con người, Atman bị giam hãm bên trong và không thể tiến tới trạng thái vượt lên tất cả, đồng nhất với Brahman nếu không có Moksha – sự giải thoát. Có ba con đường tiến đến sự giải thoát, đó là: Tri thức, Hành động và Sùng tín. Con đường tri thức là dùng rèn luyện, tu hành, học tập để chinh phục bản thân, nhìn thấu vào trong tâm hồn, thoát khỏi sức hấp dẫn bên ngoài và cuối cùng đạt tới sự siêu thoát tinh thần. Con đường hành động là dùng khá năng của mình thực hiện các trách nhiệm xã hội với một tấm lòng và mục tiêu cao cả mà không vướng bận chút ham muốn vị kỷ nào. Trung tâm của hành động là phụng sự xã hội không vì lời ích cá nhân, nhờ vậy con người có thể thoát khỏi vòng tục luỵ. Con đường thứ ba là sùng tín, sự tin tưởng vào Đấng tối cao với toàn bộ tinh thần tình cảm của tín đồ sẽ giúp Atman của họ hoà nhập với Brahman. Đây là con đường dùng tình yêu đê giải thoát, con đường dành cho mọi người.
Cuộc sống thế tục của một tín đổ Hindu giáo chịu ảnh hưởng từ quan điểm Dharma – có thể định nghĩa là phép sống. Trong hệ thống kinh điển Hindu giáo, lớp Pháp Kinh (Dharma Sutra) nêu lên hai nội dung chính của khái niệm Dharma qua thuyết Vamashrama Dharma và Ashrama Dharma. Thuyết Vamashrama Dharma được xem là “… Lý tưởng đạo đức tôn giáo để tổ chức xã hội Hindu dựa trên nguyên tắc phân chia và hợp tác trong lao động” (P. R. Rao – Sách đã dẫn), trong đó, Dhamla của mỗi người xác định nghĩa vụ, vai trò tương ứng đẳng cấp của họ trong mối quan hệ với gia đình, cộng đồng, xã hội. Với thuyết Ashrama Dharma, đường đời của một người theo khái niệm Dharma gồm bốn giai đoạn với những bổn phận mà cá nhân phải thực hiện. Bốn giai đoạn đó là: Học tập (brahmacharya) – Lập gia đình, tạo sự nghiệp, hưởng thụ (grahasthya) – tu tâm, nuôi dưỡng tinh thần (vanaprastha) – Thoát ly đời sống gia đình, xã hội, tu hành để giải thoát (Sanyasa). Như vậy Dharma là quan điểm dẫn hướng cho tổ chức xã hội cũng như tổ chức đời sống cá nhân của tín đồ Hindu.
Trong Hindu giáo, Karma và Samsara là một cặp khái niệm quan trọng có ảnh hưởng tới một số tôn giáo khác, đặc biệt là Phật giáo. Karma – nghiệp, là cách lý giải của triết học Hindu giáo về định mệnh. Qua cách lý giải này, những gì mà con người nhận được ở hiện tại là hệ quả của những điều anh đã làm trong quá khứ và cũng như vậy, những gì chúng ta làm ngày nay sẽ quyết định điều mình gặp hoặc nhận được trong tương lai. Samsara – luân hồi, là quan điểm cho rằng kiếp sống hiện tại chỉ là nhất thời, là một cuộc đời trong chuỗi vô tận những cuộc đời mà ta đã và sẽ trải qua. Tuỳ theo Karma của mình trong kiếp trước mà linh hồn ta được tái sinh vào thân xác nào, đẳng cấp nào, thậm chí giống loài nào, đồng thời phải chờ đón những điều gì ở tương lai. Karma và Samsara một mặt giúp người theo Hindu giáo lý giải, xoa dịu thăng trầm cuộc sống, tạo cách ứng xử nhẫn nhịn, một mặt cho họ nỗ lực hướng thiện, tránh điều ác, nuôi lòng lạc quan trong hôm nay để có tương lai tốt đẹp hơn.
Nhìn chung, khi tìm hiểu đạo Hindu, chúng ta không thể coi đó là một tôn giáo đơn thuần, mà còn phải thấy ở đó một phương cách tổ chức xã hội, một hệ tư tưởng và một thiết chế văn hoá sâu sắc, phong phú.