Tín ngưỡng, lễ nghi, tập tục và tôn giáo (P2)

– Tang lễ và tang phục
Tang lễ được coi là một trong những lễ nghi đóng vai trò quan trọng trong dời sống tinh thần của người dân Trung Quốc nó đặc biệt coi trọng thể hiện một cách tập trung nhất lòng nhân, hiếu và trung đối với người đã khuất. Trong thời kỳ phong kiến thì Tang lễ và chế độ cư tang được quy định chặt chẽ nghiêm ngặt. Nhưng do sự suy tàn về mọi mặt cùng với chế độ xã hội thời đó mà những lễ nghi này đã trở thành những trò giả dối, lố lãng nhiều tác phẩm văn học cũng đã thể hiện rõ mặt trái của tang lễ cùng chữ hiếu trong thời gian này như một số đoạn trong Hồng lâu mộng. Theo sử ký thì thời Tần Thuỷ Hoàng khi ông chết, các cung nữ phi tần không có con đều bị chôn sống theo. Cùng với đó là tục tuẫn táng – là tục chôn đồ theo người chết như xe ngựa, binh khí vàng ngọc châu báu. Tục lệ này đã hao phí rất nhiều tiền của, sức lực cũng như tài trí của nhân dân.
Tang phục cũng là một nghi thức được gắn với quy định về thời hạn để tang. Nó được chia làm năm bậc gọi là ngũ phục gồm: Trảm thôi, Tư thôi, Đại công, Tiểu công và Ti ma. Tuỳ từng địa phương và tuỳ thời đại mà những quy định về tang phục khác nhau.
Tế – thực tế chỉ diễn ra trong xã hội Trung Quốc ngày xưa. Tế Trời hay còn gọi là Tế Giao được tiến hành theo khuôn mẫu nhà Chu vào ngày Đông chí, ở một địa điểm phía Nam, ngoài quốc đô vì thế gọi là Nam Giao. Bên cạnh đó Tế thần Xã – vị thần trông coi đất đai trong phạm vi cả nước. Thần Tắc là vị thần trông coi ngũ cốc lương thực. Với một đất nước mà nghề nông làm gốc thì đất đai và cây lương thực có vị trí hàng đầu. Vì vậy, lễ tế thần Xã và thần Tắc cũng trở thành những cuộc tế lễ mang tính chất quốc gia do hoàng đế đích thân làm chủ lễ. Giống như ở Trung Quốc, Tế lễ tổ tiên là một nghi thức rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Trung Quốc cúng tế tổ tiên biểu thị lòng hiếu thuận, biết ơn của con cháu đối với người thân đã khuất. Với hoàng gia thì cúng tế tổ tiên được cử hành ở tông miếu. Những quy định trong việc tế lễ tổ tiên lúc đầu cũng rất phức tạp nhưng qua thời gian và cũng qua nhiều thời kỳ khác nhau các tục lệ này cũng đã đơn giản đi rất nhiều. Ngày nay trong ngày tế lễ tổ tiên được người dân coi như một ngày các con cháu trong họ tộc được gặp gỡ và chia sẻ với nhau.
– Tập tục
Người Trung Quốc có rất nhiều tập tục khác nhau, từ thời người Trung Quốc cổ đến nay nhiều tập tục đã thay đổi nhưng về cơ bản nó vẫn giữ được một số nét chính và cải biến đi cho đơn giản phù hợp với lối sống. Những tập tục có thể thấy qua cách ăn uống như: ăn uống cái gì và ăn uống như thế nào. Hay những tập tục trong cách ãn mặc, trong việc cư trú. Và đặc biệt nữa, cũng giống như một số nước khác trên thế giới, một số tập tục kiêng kị trong cuộc sống ngày thường vẫn còn những giá trị lớn cho đến ngày nay. Bên cạnh đó các tập tục trong những ngày lễ như tập tục trong lễ ngày Xuân, lễ Thanh minh và Hàn Thực, Tết Đoan ngọ, Tết trung nguyên – rằm tháng bảy, Tết trung thu – rằm tháng tám vẫn được thực hiện cho đến ngày nay. về tập tục, Việt Nam là một trong những nước tương đối giống Trung Quốc.
– Tôn giáo
+ Phật giáo:
Phật giáo thuộc Ấn Độ cổ do Thích ca Mâu-ni sáng lập vào khoảng cuối thế kỷ VI trước Công nguyên. Phật giáo đã truyền vào Trung Quốc theo đường bộ và đường biển. Hình thành, phát triển nhanh và được truyền bá rộng rãi nhất của Phật giáo là dưới triều nhà Hán. Cũng có khá nhiều tranh luận về thời điểm ra đời của Phật giáo ở Trung Quốc nhưng thực tế chưa có thông tin chính xác nào xác nhận mà chỉ do hư truyền để khẳng định sự ra đời của nó từ rất lâu như những tín ngưỡng tôn giáo khác ở Trung Quốc. Theo Đặng Đức Siêu [1], Phật giáo được đưa vào Trung Quốc từ thế kỷ thứ I bằng “Con đường tơ lụa”.
Sau một thời gian dài với những nỗ nực tìm kiếm con đường riêng cũng như thích ứng hội nhập với văn hoá truyền thống bản địa, sự ra đời của tám tông phái mang đậm màu sắc Trung Quốc đã đánh dấu sự “Trung Quốc hoá hoàn toàn Phật giáo”.
Tám tông phái được nhắc đến nhiều nhất đó là: Tam Luận tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, Thành Phật tông, Pháp Tướng tông, Luật tông, Mật tông và Thiển tông. Trong sô tám tông phái thì Thiên Thai tông là tông phái Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc do Trí Khải sáng lập tại núi Thiên Thai.
Bên cạnh đó mỗi tông phái đểu có một hệ thống giáo lý và phương pháp riêng. Thiền tông là một tông phái quan trọng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến toàn bộ hệ thống tư tướng Phật giáo Trung Quốc từ thời Đường trớ về sau. Như trong cuốn “Giới thiệu văn hoá Phương Đông” do Giáo sư, tiến sĩ Mai Vãn Chừ (chù biên) cùng các cộng sự đã viết rằng: “Thiển tông quan tâm đến kinh nghiệm chứng ngộ, đả phá mạnh mẽ mọi nghi thức tôn giáo và mọi lý luận vể giáo pháp. Thiền tông chính là sự tổng hợp độc đáo của hai giáo lí, hai học thuyết nền tảng của Phật giáo đại thừa An Độ, đó là Trung quán và Duy thức”. Cũng theo sách đã dần. Thiền Tông có thể: truyền Giáo pháp ngoài kinh đién, trực chi nhân tâm, thấy tính thành Phật, nhấn mạnh sự trớ vể với tự nhiên.
Trong cuốn sách trên, GS. Mai Văn Chừ và những đồng tác giả cũng đã phân chia các giai đoạn phát triển cúa Phật giáo Trung Hoa như sau:
a) Thời đại phiên dịch (nhà Đông Hán, đời Tam Quốc, đời Tây Tấn).
b) Thời đại nghiên cứu (nhà Đông Tấn và Nam – Bắc triều).
c) Thời đại xây dựng (Tuỳ, Đường).
d) Thời đại kế thừa (Ngũ đại, Tống, Liêu, Kim, Nguyên, Minh).
Và đời Nhà Thanh, Phật giáo có phần suy yếu đi.