Quá trình phát triển của kiến trúc hiện đại Ấn Độ (P1)

Chúng ta đã hơn một lần nhắc đến sự kỳ vĩ của kiến trúc cổ đại và Trung đại Ấn Độ, với đặc chất “cộng sinh đa nguyên”, với những “cội nguồn của linh cảm”, từ Stupa ở Sanchi, đến đền đài ở Kharujaho, đến lăng Taj Mahal…; bản đồ kiến trúc truyền thông của Ấn Độ, từ Mohenjo – Daro, Harappa (nay thuộc Pakistan), đến Sanchi, Khajuraho, Bhubaneshavar, Fatepur Sikri, Delhi, đến Karli, Shriragam, Tanjore… đầy đặc chi chít những kỳ tích kiến trúc khiến cả loài người kinh ngạc. Nhưng Ân Độ cổ xưa không dừng lại, thành tựu của nền kiến trúc Cận đại – Hiện đại – Đương đại Ân Độ cũng khiến cả phương Tây và phương Đông đang kinh ngạc không kém, và nhiều nước trên thế giới – riêng về mặt kiến trúc – đang phải tiếp tục đến Ân Độ để “Thỉnh kinh”.
Nền văn hoá Ấn Độ là một nền văn hoá “mở”, nó tiếp thu ngốn ngấu các tinh hoa của các tôn giáo, các tương tưởng đến từ các nước, các khu vực khác, nó tiếp thu các tinh hoa văn hoá của các dân tộc, làm thành cái của mình, vì bản thân nó đã rất mạnh nên không bao giờ sợ bị “hoà tan”. Các nhà lãnh đạo, các nhà văn hoá lớn Ân Độ đều là hỗn hợp thể của văn minh Đông – Tây.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu kiến trúc Hiện đại Ấn Độ trong hơn 100 năm qua, đặc biệt chú tâm vào 30 năm gần đây, có hai chủ đề cần bàn thảo:
– Ảnh hưởng của các kiến trúc lớn phương Tây đối với kiến trúc Hiện đại Ấn Độ.
– Thành tựu, các tác phẩm và tác giả chủ yếu của nền kiến trúc Hiện đại và Đương đại của Ân Độ.

Ảnh hưởng của E. Luytens, của Le Corbusier và Louis Kahn đòi với kiên trúc Ấn Độ thế kỉ XX
Đó là 3 kiến trúc sư Anh, Pháp và Mỹ đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của nền kiến trúc mới của Ân Độ, nhưng ngoài ra còn phải kể thêm vai trò quan trọng của p. Jeanneret B. Kohn (Pháp), E. Stone, J. Stein (Mỹ) và F. Sahba (Israel).
Ngay từ năm 1911, Anh quốc tăng cường sự thống trị đối với Bắc Ấn Độ, quy hoạch và xây dựng một New Delhi (Delhi mới) bên cạnh Delhi cũ, nhằm mục đích cổ suý “tinh thần của Hoàng gia Anh quốc”. Đã có 3 nhân vật gắn bó với bản đồ án quy hoạch này: E. Luytens (kiến trúc sư nổi tiếng, Chủ tịch hội Kiến trúc sư Hoàng gia Anh), K. Baker (kiến trúc sư cộng tác) và L. c. Harding (Toàn quyển Anh quốc tại Ấn Độ).
Viên toàn quyền Harding muốn có một cái gì đó vừa phương Tây, vừa phương Đông, trong khi đó E. Luytens lại muốn áp đặt một tư tưởng quy hoạch thuần tuý phương Tây, ông cho chỉ có kiến trúc cổ điển châu Âu mới là văn minh, duy lý và nhân văn. Quy hoạch New Delhi (Delhi Hoàng gia) nhấn mạnh trục chính, trục ngang và đường chéo, thể hiện sự cao ngạo của E. Luytens. Viên Toàn quyền Harding đã muốn “hãm phanh” bớt tham vọng của Luytens, nhưng vể hình thức chủ nghĩa mà nói, phương án quy hoạch đã gặt hái được ít nhiều thành công. Chính vì vậy, để tiến tới có một “tinh thần Ấn Độ”, một “linh hồn Ấn Độ” thật sự, ta phải chờ đến một thành phố với kiến trúc và quy hoạch hoàn toàn theo kiểu mới ở Chandigard của Le Corbusier.
Từ năm 1950 đến 1953, Le Corbusier đã nghiên cứu quy hoạch chung cho Chandigard thủ phủ mới của bang Punjab và đã dựng lên một số công trình cho giai đoạn 1. Nguyên tắc tổ chức của thành phố nằm dưới chân dãy núi Hymalaya này là:
– Phân vùng công năng rõ rệt.
– Phân loại đường giao thông hợp lý và tỉ mỉ.
– Chú ý mối liên hệ giữa các khu vực ở – lao động – làm việc – nghỉ ngơi.
Một trục chính của thành phố đã nối liền khu trung tâm đầu não hành chính của thành phố (Capitol) với toàn bộ thành phố. Hệ thống đường có 7 cấp, từ VI đến V7.
Le Corbusier đã “vượt lên những phân biệt xã hội”, mong muốn những con người – dù ở tầng lớp nào trong xã hội – cũng được hưởng hạnh phúc trong điểu kiện ăn ở, sinh hoạt.
Le Corbusier đã thực hiện câu danh ngôn của Descartes: “Cần phải thống nhất giữa các tác phẩm của thiên nhiên và của con người”.
Trong thành phố này, Le Corbusier đã để lại các tác phẩm kiến trúc hết sức siêu việt trong lịch sử kiến trúc thế giới như toà nhà Ban thư ký (1951 – 1957), cung Tư pháp (1951 – 1953), cung Đại hội, v.v… đó là “những bản nhạc đông kết”, “những bản trường ca bằng bêtông”, rất thích hợp với kiến trúc nhiệt đới bằng cách dùng hai lớp mái cho tầng trên cùng, dùng các hiên lớn cho toà nhà và dùng mặt nước để trang trí cho toàn cảnh.
Tất nhiên, ngày nay người ta quy hoạch đô thị theo cách khác, nhưng qua điều tra, sau 50 nãm, người Chandigard vẫn an cư lạc nghiệp ở Chandigard, đó vẫn là một địa điểm của những nhà hành hương kiến trúc. Ngay lúc đó, Thủ tướng Ân Độ Nerhu và sau này, các nhà phê bình nghệ thuật Maurice Besser và các Pardo đã lên tiếng bênh vực đồ án này. Le Corbusier vẫn là kiến trúc sư lớn nhất của thế kỷ XX và tư tưởng dùng cho kiến trúc nhiệt đới và cách xử lý chi tiết của ông vẫn được các kiến trúc sư lớn châu Á, đặc biệt là Nam Á và Đông Nam Á sau này sử dụng.
Louis Kahn, theo điều tra ở Mỹ năm 1980, trong tâm khảm của người Mỹ, trong việc tuyển chọn các kiến trúc sư nổi tiếng nhất, đã được xếp thứ hai chỉ đứng sau Le Corbusier.
Louis Kahn đã để lại ở Ấn Độ tác phẩm Học viện quản lý Ấn Độ ở Ahmedabad và để lại ở Bangladesh tác phẩm Nhà quốc hội. Các kiến trúc chủ chốt của kiến trúc hiện đại Ấn Độ sau này chịu ảnh hưởng của Kahn ở các mặt sau: những vấn đề về lý luận kiến trúc, vấn đề ý chí tồn tại và bản chất của kiến trúc, vấn để phân biệt rõ giữa nhà cửa và kiến trúc là hoàn toàn khác nhau, vấn đề triết lý về trật tự và vể ánh sáng, những quan niệm về chất thơ và về triết học kiến trúc. Cả thế giới, không chỉ Ẩn Độ và thế giới Ấn Độ hoá, đã gọi Louis Kahn là nhà Thi triết kiến trúc.