Những lăng mộ ở Huế

nhung lang mo o hue 53d0af061e55d - Những lăng mộ ở Huế

Nền kiến trúc của Huế đẹp và thơ là một trong những bản tổng kết cô đọng nhất những giá trị của một nền phân loại học kiến trúc phong phú của dân tộc. Kiến trúc Huế bao gồm nhiều mảng đáng đề cập đến là thành quách, cung điện, lăng tẩm chùa tháp và nhà vườn. Thành quách Huế bao gồm kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm thành (Hoàng thành và Tử Cấm thành còn quen gọi là Đại nội); cung điện Huế có điện Thái Hòa và Ngọ Môn cũng rất nổi tiếng. Và một trong những di sản đáng trân trọng đó không thể không đề cập đến là hộ thống lãng mộ các vua chúa. Lãng mộ Huế đã góp phần xứng đáng để kiến trúc Huế được xếp vào di sản được bảo tồn và trùng tu của UNESCO, bên cạnh Nara của Nhật Bản, Mohenjo Daro của Ân Độ, Sukhothai của Thái Lan v.v…
Nói đến hệ thống lăng mộ thường người ta liên tưởng tới sự tang tóc, nặng nề, nhưng ở Huế, lăng mộ của các nhà vua lại khác, ở đây, con người bàng quan, lơ đễnh với cái chết, thậm chí còn tươi vui. Và nếu đời ông vua nào sính văn học thì không khí của quần thể kiến trúc lăng mộ đậm chất thơ, đời ông vua nào thành đạt thì không khí lăng mộ đầy vẻ hùng mạnh mực thước, nếu đời ông vua nào đắng cay thì các thành phần kiến trúc cũng đượm mầu sám hối, muốn dùng kiến trúc để quên đi những thất bại của cuộc đời, làm một nơi cung điện thứ hai để sớm tìm đến cõi hư vô.
Lăng mộ Huế là những ví dụ sáng tỏ nhất của Việt Nam cho một lĩnh vực lí thuyết kiến trúc được đề xướng ngày nay ở Nhật Bản và rất được thế giới ưa chuông. Đó là lí thuyết cộng sinh học symbiosis: cần có sự cộng sinh giữa kiến trúc và thiên nhiên, con người và môi trường, lịch sử và tương lai, văn hoá này và văn hoá khác v.v… Lý thuyết cộng sinh ra đời ở Nhật Bản có nguồn gốc sâu xa từ Phật giáo Ân Độ, vô hình dung rất gần gũi với quan điểm kiến trúc nhà Phật của các vua nhà Nguyễn. Để kết hợp các đơn thể không gian chính, ở lãng mộ nhà Nguyễn cũng thấy có không gian “Engawa” là những không gian hư ảo (ambigiie) làm khâu chuyển tiếp, quá độ.
Vua Nguyễn có bảy toà lăng chính: lăng Gia Long (xây dựng năm 1814 – 1820), lăng Minh Mạng (1840 – 1843), lăng Thiệu Trị (1848), lăng Tự Đức (1864 – 1867), lăng Kiến Phúc (?), lăng Đồng Khánh (1888 – 1889) và lăng Khải Định (1920 – 1931).
Các toà lăng này nằm rải rác dọc theo sông Hương ở phía Nam kinh thành, có vị trí địa lí thế đất được chọn lựa rất kĩ theo thuật “phong thuỷ” của người xưa. Trừ mấy toà lăng ở gần, còn các lăng thường đặt cách biệt với trung tâm Huế, như lăng Tự Đức (cách Huế 8km) lăng Khải Định (cách Huế 10km), lăng Minh Mạng (cách Huế 12km), lăng Gia Long (cách Huế 16km).

Những lăng mộ ở Huế 1

Nếu đến Huế thiếu thì giờ để nghiên cứu toàn bộ hệ thống lăng mộ vua chúa (đó là chưa kể đến hệ thống các lăng mộ của các hoàng thân, quý phi hay dân thường cũng có những đặc điểm rất độc đáo), chúng ta chỉ cần nghiên cứu ba lăng mộ chính tiêu biểu là lăng Minh Mạng, lãng Tự Đức và lăng Khải Định.
Đó là ba sự hiện diện cho những mốc thời gian khác nhau, ba quan niệm về không gian khác nhau, ba tiêu chí về thẩm mĩ và cách sống khác nhau, ba bằng chứng về ảnh hưởng của thời cuộc khác nhau.
Lăng Minh Mạng tổ hợp đối xứng, kết hợp mạnh với thiên nhiên. Trên một trục dọc trải dài, bô trí gần mười công trình kiến trúc, rất nhiều sân có cao độ khác nhau có tác dụng nhấn mạnh quyền lực. Trục đường này gọi là trục Thần đạo (đường của Thần). Lăng có diện tích rộng 18ha, ngoài la thành (tường thành bao bọc) là một diện tích cấm địa 475 ha (vùng đất cấm của các lăng vua nhà Nguyễn rất lớn, vùng đất dành cho lãng Gia Long là 20km2, lăng Thiệu Trị là 5km2…).
Các thành phần kiến trúc lần lượt trải ra theo trục dọc của hệ công trình là: Đại hồng môn (cửa đi lớn), sân chầu, sân tế, Hiển Đức môn, điện Sùng An, sau đó đến một loạt các cầu đá và Bửu thành – nơi đặt phần mộ của nhà vua.
Toà lăng tuy đối xứng, nhấn mạnh trục dọc nhưng không hề gò bó cứng nhắc vì các lớp mái kiến trúc có độ cao rất khác nhau, các lóp nền, lối lên luôn luôn được giật cấp và toàn bộ quần thể đặt trong một vùng thiên nhiên hết sức mênh mông, ngoài những rừng cây um tùm tươi tốt còn có sự góp thêm vẻ đẹp của một vùng hồ sen rộng lớn.
Lăng Tự Đức lại là tác phẩm tiêu biểu cho một cách bố cục khác: bố cục tự do. Tự Đức đặt tên cho khu lăng rộng 225 ha của mình là Khiêm lăng (cái lăng của sự khiêm tốn).
Các công trình không bố trí đối xứng mà theo một con đường quanh co hoặc sắp xếp hoàn toàn có tính thoải mái, ngẫu nhiên nên quần thể kiến trúc kết hợp rất mạnh với môi trường.
Như vậy, lăng Tự Đức có hai điểm trội về bố cục kiến trúc (phân bố các công trình tự do, đường đi lại không dùng trục thần đạo chính tâm) và về nghệ thuật tạo cảnh (dùng cây cối, hoa, hồ sen, núi giả một cách thành công).
Khu đất rất rộng, quần thể rất nhiều công trình nhưng tỉ lệ, tỉ xích ở đây có tính chất “gần gũi” và “thân mật”.
Lăng Khải Định ra đời muộn nhất, một kiểu kiến trúc Barôc trong tổng thể và Rococo trong chi tiết của kiến trúc việt nam. Đắp nể và trang trí ở đây rất công phu nhưng có phần tỉa tót.
Thành phố Huế đẹp vì kiến trúc và thiên nhiên của toàn bộ thành phố và khu vực, trong đó – rất đáng kể là sự đóng góp của kiến trúc và thiên nhiên của các quần thể lăng mộ vua chúa thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX.