Những khái niệm cơ bản về Kiến trúc cổ đại Trung Quốc

Nển kiên trúc cổ đại Trung Quốc có một vị trí đặc thù trong nền vãn hoá kiến trúc thê giới, đó là một nền kiến trúc có lịch sử lâu dài với một vị trí đặc thù một sắc thái độc đáo làm cho nhân loại khâm phục và kinh ngạc.
Thời thượng cổ, nhân dân Trung Quốc gọi công trình kiến trúc là “thổ mộc” vì từ đời nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI – XI trước Công nguyên), kỹ thuật đầm đất và đóng ván xây tường đất đã được phổ biến rộng rãi.
Tiếp đến là giai đoạn dùng gạch xây tường, bắt đầu lợp ngói gốm cho mái và biết dùng “đấu” gỗ để tăng diện tích chịu lực (đời nhà Chu, thế kỉ XI trước Công nguyên đến năm 771 trước Công nguyên).
Vào thời Xuân – Thu (772 – 481 trước Công nguyên) bắt đầu phát triển lối trang sức tô vẽ và khảm khắc.
Đến đời Hán (206 trước Công nguyên – 220 sau Công nguyên), kiến trúc Trung Hoa có sự đột biến về chất và về lượng, do vãn hoá bản địa phát triển và có sự giao lưu văn hoá giữa Trung Quốc với phương Tây tấp nập. Lúc này, nhiều loại gạch ngói bằng đá đã được sản xuất, nghệ thuật trang trí hoa văn và tô vẽ trong kiến trúc, trên đấu củng, cột nhà, cửa sổ, tường vách, trần nhà, nóc nhà v.v… được đẩy mạnh. Bô cục độc đáo của kiến trúc gỗ Trung Quốc căn bản được hình thành vào thời gian này. Nghệ thuật kiến trúc gỗ có quá trình phát triển dài tới 2000 nãm.
Hình thức kết cấu gỗ chủ yếu là một giá cốt bằng cột và xà ngang, trọng lượng toàn bộ công trình thông qua cột truyền xuống đất, vách tường không chịu lực. Vì vậy cách bô trí cửa rất tự do, linh hoạt. Có một bộ phận kiến trúc gỗ rất quan trọng là “đấu cúng”, tức là dùng mảnh gỗ hình đấu và xà gỗ hình cung sắp lên ngang dọc. Các lófp sắp ngang, dọc đó to dần lên, mái hiên nhô ra ngoài, làm thành “hiên bay” vừa thực dụng vừa đẹp mắt.
Một đặc điểm khác của kết cấu gỗ Trung Quốc là cách ghép mộng rất tinh xảo, công trình trường tồn hàng trăm năm bởi một hệ mộng chặt chẽ mà không cần một cái đinh nào.
Ngoài nhu cầu sử dụng, kiến trúc Trung Quốc cổ đại rất coi trọng trang trí lại chống ẩm chống nóng đều tốt. Kiến trúc Trung Quốc còn một điểm nổi bật khác là sử dụng màu nguyên sắc rực rỡ và dùng các loại nguyên vật liệu tốt như ngói tráng men.
Từ đời Đông Hán (25 – 220), Phật giáo truyền vào Trung Quốc nên ở Trung Quốc từ đó phát triển mạnh chùa tháp và chùa hang nổi tiếng.
Từ đời nhà Nguyên thế kỷ XIII, vùng Trung Nguyên xây dựng nhiều chùa Lạt Ma và tháp Phật Lục bình kiểu Tây Tạng.
Đến hai đời Minh và Thanh (1368 – 1911 ), nghệ thuật kiến trúc Trung Quốc phát triển đến đỉnh cao, với tác phẩm tiêu biểu là quần thể Cố Cung, Bắc Kinh. Ngoài ra nghệ thuật hoa viên Trung Quốc thời kỳ này cũng đạt tới sự cực thịnh.
Các thành phần kiến trúc, các thể loại kiến trúc Trung Quốc rất phong phú, sau đày là những định nghĩa của các loại kiến trúc tiêu biểu (vì là định nghĩa nên chúng tỏi trích nguyên vãn).
Cung
Thời cổ gọi nhà cửa là cung thất, sau này chỉ chỗ vua ở và chùa miếu. Cô’ cung Bắc Kinh là Hoàng cung của hai đời Minh, Thanh; diện tích 72ha, với 9000 căn nhà, là ví dụ tiêu biểu nhất của kiến trúc cổ còn lại cho đến đời nay.
Điện
Điện là nơi vua ngự hoặc chỗ đền thờ. Điện Thái Hoà Cố cung Bắc Kinh là nơi các nhà vua Minh, Thanh xử lí triều chính và làm lễ trọng thể, quy mô và kiến trúc của nó bao giờ cũng được đặt trên địa vị cao nhất.
Khuyết
Thời cổ Khuyết Môn là cửa cung điện nhà vua. Có hai ví dụ tiêu biểu về Khuyei Môn trong kiến trúc Trung Quốc là Khuyết Môn chùa Thánh Y ở Nam Dương tỉnh Hà Nam và Ngọ Môn rất đồ sộ ở Cố cung Bắc Kinh.
Lầu
Nhà có hai tầng trở lên gọi là lầu, ngoài những lầu để ở còn có lầu chuông lầu trống lầu thành và lầu qua phô v.v… Một số ví dụ có thể kể ra là lầu Nhạc Dương ở Hồ Nam, lầu Hoàng Hạc ở Vũ Hán và lầu góc ở Cố cung Bắc Kinh.
Các
Các là loại nhà gác theo cổ truyền, dùng để ngắm cảnh xa, du ngoạn, tàng thư hoặc thờ cúng. Các Phật Hương trong Di Hòa Viên và Các Văn Uyên trong Cố cung Bắc Kinh đều rất nổi tiếng.
Hiên
Một loại hành lang hoặc phòng nhỏ trong kiến trúc truyền thống Trung Quốc. Ví dụ tiêu biểu là hiên Yểm Hoa trong Tĩnh Tâm Trai công viên Bắc Hải Trung Quốc.
Đường
Khái niệm đường là để chỉ các căn phòng cao và lớn ở chính giữa các kiến trúc cổ truyền Trung Quốc. Ví dụ tiêu biểu có thể kể ra là Ngọc Lan Đường trong Di Hoà Viên, từng là cung ngủ của nhà vua Quang Tự nhà Thanh.
Đài
Là loại công trình kiến trúc cao và bằng phẳng, dùng để viễn vọng và quan sát. Ví dụ đài quan sát thiên vãn cổ ở Bắc Kinh xây dựng vào năm 1442.
Tạ
Một loại hình kiến trúc trong vườn tược, xây bên cạnh hoặc trên mặt hồ nước, dùng đẻ du lãm, thưởng thức và ngắm cảnh xa. Ví dụ tiêu biểu có thể kể ra Thuỵ Tâm tạ trong Ty Thử Sơn Trang (Ly Cung Hoàng gia đời Thanh) tại Thừa Đức tỉnh Hà Bắc.
Lang
Kiến trúc dưới mái hiên đặt ở hai bên căn phòng chính hoặc là một hành lang riêng qua lại giữa các phòng. Lang còn nhiều kiểu như Du lang, Hoa lang. Ví dụ tiêu biểu là Trường lang ở Di Hoà Viên.
Đình
Nhà nhỏ bốn phía đế trống, xây bằng tre, gỗ và đá, kiểu cỡ có nhiều loại, thường xây trong vườn tược là nơi danh lam thắng cảnh để du khách thướng thức và nghỉ ngơi. Ngôi đình khá tiêu biểu là Lang Như Đình ở Di Hoà Viên, là ngôi đình lớn nhất còn lại cho đến hiện nay.
Đàn
Là nền đắp cao bằng đất và đá tại giữa quảng trường, thời cổ dùng để tổ chức nghi lễ lớn như tế lễ, hội họp và tuyên thệ. Hoàn Khưu Đàn trong Thiên Đàn Bắc Kinh là đàn tế của nhà vua hai đời Minh và Thanh tổ chức lễ tế trời vào ngày Đông chí.
Tháp
Một loại công trình cao với nhiều kiểu cách, tháp Phật thời cổ (còn gọi là Bảo tháp) thường thấy là bắt nguồn từ An Độ, dùng để cất giữ xá lị (di cốt của Phật) và kinh Phật, xây dựng bằng gạch, đá và gỗ.
Tác phẩm tiêu biểu của tháp là Tháp tráng men 7 tầng hình bát giác ở bên ngoài Miếu Chiêu công viên Hương Sơn, Bắc Kinh.
Cầu
Cầu vòm thời cổ Trung Quốc rất độc đáo, có nhiều hình dáng, rất thực dụng và mĩ quan thường kết hợp với nghệ thuật tạo vườn. Cầu 17 nhịp ở hồ Côn Minh. Di hoà Viên Bắc Kinh, dài 150m, nhìn xa như cầu vồng trên mật hồ là cầu lớn nhất và nổi tiếng nhất.
Lầu môn
Là loại kiến trúc kỉ niệm, đời xưa dùng để tuyên dương công đức lễ giáo phong kiến, xây bằng gỗ hay đá, trên cổng khắc chữ đề từ, hay đặt trước một kiến trúc trọng yếu. Lầu môn nổi tiếng là cổng vào Di Hoà Viên Bắc Kinh
Cột biểu
Là cột đá chạm trổ hoa vãn đặt trước cung điện hoặc lăng mộ, đỉnh cột chạm hình mây bay và thú ngồi. Ví dụ tiêu biểu là cột biểu bằng Hán Bạch ngọc trước Thiên An Môn Bắc Kinh.
Trên đây là những khái niệm cơ bản, những định nghĩa thiết yếu nhất mà chúng tôi sưu tầm để các bạn có thể có những ấn tượng ban đầu đối với kiến trúc cổ đại Trung Quốc.