Một số công trình kiến trúc tiêu biểu của Hà Nội và vùng phụ cận – P2

mot so cong trinh kien truc tieu bieu cua ha noi va vung phu can p2 53d0af0385127 - Một số công trình kiến trúc tiêu biểu của Hà Nội và vùng phụ cận - P2

Đình Đình Bảng
Đất Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay) là mảnh đất đã tích tụ bao đời nay những tinh anh nhiều mặt cúa dân tộc. Đây cũng là một trung tâm kiến trúc lớn với vô sô các di tích ghi trên bản đồ, trong đó có đình Đình Bảng, một ngôi đình nổi tiếng mà ca dao xưa đã từng ca ngợi:
Hỡi cô thắt lưng bao xanh Có về Đình Banff với anh thì vê
Đình Đình Bảng khới công năm 1700, hoàn công nãm 1736, thờ các thần Cao Sơn, Bạch Lễ, Thuỵ Ba, sau thờ thêm vợ chổng ông Nguyền Thạc Lượng.
Đình Đình Bảng gồm toà Đại Đình phía trước nối với Hậu cung ờ phía sau theo dạng mặt bàng kiểu chuôi vổ. Toà Đại Đình dài 20 mét, rộng 14 mét, cao 8 mét, phần mái lớn rủ xuống đẹp đẽ chiếm tới 5,5 mét.
Những cây gỗ lim ở đây to hiếm thấy, đường kính 0,65 mét đối với cột lớn và 0,55 mét đối với cột con.
Vẻ độc đáo của ngôi đình thể hiện ở sự toả rộng trong không gian của mái đình, sự đồ sộ của những đầu đao, khả năng thích nghi với khí hậu của công trình (kiêu nhà sàn. cửa bức bàn có khả năng chống mưa nắng) và sự sung mãn về trang trí, điêu khắc.
Trang trí và điêu khắc đình Đình Bảng đa dạng mà vẩn thống nhất, phong phú mà vản nhất quán. Đó là những đường nét điêu khắc uốn lượn tài tình, khi bay bổng mạnh mẽ, khi lan toả nhịp nhàng, thể hiện cụ thể ớ các vì nóc, côn, cửa võng – gây cho người xem một xúc cảm mạnh mẽ.
Hình khối tổng thể của kiến trúc đình Đình Bảng đơn giản, mạnh mẽ, giàu sức khái quát, nhưng chi tiết trần thiết lại phong phú, phức tạp, đó cũng chính là một trong những nguyên lý nghệ thuật đưa công trình đến chỗ thành công.

Một số công trình kiến trúc tiêu biểu của Hà Nội và vùng phụ cận - P2 1

• Đình Tây Đằng và đình Chu Quyến
Xứ Đoài, thuộc phạm vi Hà Tây cũ, có hai ngôi đình nổi tiếng: đình Tây Đằng và đình Chu Quyến.
Đình Tây Đằng nằm quá về phía Tây thị xã Sơn Tây khoảng hơn 10km, được xây dựng vào cuối thế kỷ XVI, gồm 5 gian, 4 mái, hàng hiên bao quanh, nhịp giữa rất lớn, toàn bộ có 48 chiếc cột to nhỏ. Kết cấu kiểu trồng rường, có nhiều bộ phận để trang trí.
Các đầu đao uốn lên được trang trí tứ linh (long, ly, quy, phượng) mầu gan trâu. Đầu mái guột của đinh Tây Đằng có độ cong đáng kể nhằm gây ấn tượng mạnh. Những hình ảnh chạm trổ trên các bộ phận kiến trúc đề cập đến các đề tài: động vật, thực vật (hoa cúc, hoa phù dung), thiên nhiên (mây trời), và đời sống dân gian (bơi thuyền, đốn củi, uống rượu, trồng cây chuối, chải đầu cho nhau, gánh con…). Có thể nói những niềm vui, những vất vả của con người trong xã hội cũ đều tập trung ở đây.
Đình Tây Đằng thờ thần Núi Tản Viên – Sơn Tinh, một truyền thuyết rất đẹp, nhưng việc thờ thần thánh ở đây có vẻ siêu thoát, trở thành một tập quán gắn bó với chức năng văn hoá của ngôi đình nhiều hơn, có thể vì vậy mà ở đây không có Tiền tế và Hậu cung.
Đình Chu Quyến có số lượng hàng cột và số cột giống như đình Tây Đằng (8 hàng, 48 cột), song có những nét khác biệt. Điểm đáng chú ý ở đình Chu Quyến là vẻ vạm vỡ, sự khoẻ khoắn. Công trình trông cân bằng và ổn định, mặc dù phần thân nhà (chiều cao cột từ tảng tới tàu mái) chỉ bằng một nửa phần mái ngự trị bên trên.
Tính hoành tráng của ngôi đình tác động lên thị giác của con người rất rõ, dù đứng ở phía trước, ở cạnh bên, ở xa hay ở gần, đặc biệt đứng ở góc chéo mà chiêm ngưỡng thì lại càng rõ rệt hơn.
Kiến trúc của ngôi đình rất phù hợp với điều kiện nhiệt đới, mặt bằng thông thoáng, độ vươn ra của mái khỏi hành lang rất lớn, và nền thoáng kiểu nhà sàn.
Hai ngôi đình Tây Đằng và Chu Quyến là hai ngôi đền có giá trị về mặt kiến trúc, kết cấu trong bộ sưu tập các ngôi đình Việt Nam.
• Nhà hát Lớn Hà Nội
Nhà hát Lớn Hà Nội được khởi công xây dựng vào những năm 1901 – 1902, hoàn thành năm 1911, là một trong những công trình kiến trúc có giá trị lịch sử và giá trị kiến trúc của Hà Nội hiện nay.
Có phong cách gần giống như nhà hát Opera ở Paris do kiến trúc sư Charles Tonier xây dựng ở Pháp vào giữa thế kỷ trước nhưng có khối tích nhỏ hơn, nhà hát Lớn Hà Nội cũng mang ít nhiều đặc điểm mà nhà hát Opera Paris đã có. Toàn thể nhà hát Lớn Hà Nội toát lên tinh thần cổ điển và tinh thần của chủ nghĩa Triết chung, ở một số bộ phận nhất định, nó lại có phong cách Barốc và tính chất thế tục. Những phong cách trên hoà quyện vào nhau đã bảo đảm cho kiến trúc nhà hát Lớn có một giá trị lâu bền.
Về kích thước, phòng khán giả của Nhà hát lớn có không gian hai chiều là 24 X 24 mét, sân khấu cũng có kích thước đúng bằng như vậy, các thông số mặt bằng khác của đại sảnh, cầu thang chính, hành lang hai bên, cầu thang phụ và chiều cao của tầng trống sảnh chính đểu khá lớn, nói lên sự chú ý đến các sinh hoạt xã giao khác ngoài những hoạt động diễn xuất và thưởng thức nghệ thuật.
Chi tiết bên trong của nhà hát tập trung chủ yếu ở trần vòm phòng biểu diễn và các sảnh lát gạch đá hoa kích thước lớn; trong khi đó chi tiết bên ngoài tập trung ở các mái lớn lợp ngói đá có các động vật ở các góc mái và mặt chính trang trí thức cột Corinth và các hoa văn trang trí ở các mái đón lối vào hai bên.
Phong cách Nhà hát Lớn Hà Nội vừa nghiêm túc vừa phóng khoáng, xứng đáng là một trung tâm biểu diễn và giao tiếp xã hội của thành phố Hà Nội. Vừa qua, Nhà hát Lớn Hà Nội đã được tôn tạo lớn, để công trình có thể tiếp tục gánh vác tốt vai trò văn hoá xã hội của nó vào thế kỷ XXI.
• Phủ Chủ tịch
Phủ Chủ tịch, tên gốc là phủ Toàn quyền, trước đây được xây dựng nhằm mục đích nhấn mạnh sự quyền lực của nền thống trị, nên công trình cần thể hiện được vẻ “tôn nghiêm” và “uy lực”.
Phủ Toàn quyền đặt ở phía Bắc thành phố, gần Hồ Tây, vườn Bách Thảo (nơi năm 1890, dân bị xua đi, lấy 20 ha đất trồng cây, nuôi thú, còn gọi là Trại Hàng Hoa), nơi có cốt đất cao ráo, địa hình đẹp.
Công trình được xây dựng nãm 1902, có chiều cao 3 tầng. Tầng một là tầng nửa hầm xây nổi, có kẻ mạch vữa giả đá thường thấy trong kiến trúc cổ điển Pháp, đặt các phòng phục vụ, tầng hai là các phòng nghi lễ và làm việc, tầng ba để làm việc và để ở.
Mặt bằng đối xứng hoàn toàn, có mặt khối lớn ở giữa và hai khối hai bên nhô ra, kiểu bố cục ba khối kiến trúc (avant corps).
Để nhấn mạnh các tầng trên, tầng nửa hầm được thiết kế cửa nhỏ gây cảm giác thực thể, một hệ bậc lên phía trước nhà (phía Đông) được thiết kế gắn liền mặt đất với một hiên rộng và với tầng hai là tầng sử dụng chính. Một đường xoắn ốc cho ôtô lượn lên cũng được thiết kế ở phía sau nhà.
Các không gian tiếp tân được thiết kế rất sang trọng, những phần không gian lớn có hệ thống cột kép chịu lực, chi tiết bên trong dùng thức cột Corinth hoa lệ, giữa các cột là vòm, nền sảnh trát granito, lan can cầu thang dùng sắt uốn, chi tiết kiến trúc bên ngoài dùng trang trí “đãng ten” ở các đỉnh mái.
Để đạt được một khung cảnh trang nghiêm cho một trụ sở cơ quan quyền lực, bút pháp thiết kế kiểu phong cách văn nghệ Phục hưng được dùng ở đây là thích hợp.
• Viện bảo tàng Lịch sử
Viện bảo tàng Lịch sử hiện nay trước đây có tên là Nhà bảo tàng Louis Finot hay Bảo tàng của Trường Viễn Đông Bác cổ (Musée de L’ecole Franẹaise d’Etreme – Orient).
Viện bảo tàng này được khởi công vào năm 1928, khánh thành vào năm 1932, tác giả là kiến trúc sư nổi tiếng Emest Hébrad. Lúc bấy giờ, các công trình trước đày do Pháp áp đật ở Đông Dương có nguồn gốc từ kiến trúc chính thống Pháp, với mái đá (ardoise) và cửa sổ tròn trên mái (lucarnes) đã tỏ ra không phù hợp với xứ nóng. Vì vậy các kiến trúc sư tiến bộ và nhạy cảm với nền văn hoá bản địa, đứng đầu là Ernest Hébrard, đã đi tìm một phong cách kiến trúc mới phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam hơn; một phong cách mới đã được định hình và có tên là phong cách kiến trúc Đông Dương.
Bảo tàng Louis Finot có mặt bằng gồm hai phần chính: một sảnh lớn hình bát giác ở phía trước (mỗi cạnh lớn hình bát giác có kích thước 11 mét, nhịp lớn 18,64 mét) và một phòng lớn trưng bày ở phía sau (kích thước rộng 11 mét, dài 43,4 mét).
Đặc điểm kiến trúc của công trình này là trên hệ thống mặt bằng không phức tạp dựng lên một hệ mái ngói nhiêu mái, với những ôvăng trên cửa và cửa hãm để chống mưa, chống nắng và thông gió xuyên phòng. Công trình thành công về mặt kiến trúc một phần là do đã tuân theo một trong những nguyên tắc cơ bản của thẩm mĩ kiến trúc là “tổng thể đơn giản chi tiết phong phú”.
Riêng phần mái sảnh hình bát giác nhô lên cao, lại có kích thước lớn nên trông rất hoành tráng, hùng vĩ, hình ảnh này có những nét tương đồng với toà Phật Hương Các trong Di Hoà Viên ở Bắc Kinh, điều đó nói lên những tìm tòi của Emest Hébrard không chỉ dừng lại ở sự kết hợp giữa hai nền văn minh Pháp – Việt, mà còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố của văn hoá Trung Hoa.
• Viện Pasteur
Viện Pasteur ngày nay còn gọi là Viện Vệ sinh dịch tễ, được hoàn thành nãm 1930 theo đồ án của kiên trúc sư Arthur Roger. Công trình có dạng mặt bằng kiểu hành lang bên, phía Bắc đặt các phòng thí nghiệm có kích thước lớn, phía Nam có hành lang rộng 2,5 mét. Arthur Roger là một nhà sư phạm, giảng dạy tại khoa Kiến trúc Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, trong công trình này, bút pháp của ông tỏ ra rất thận trọng khi xử lý hình thức kiến trúc, toàn nhà được coi như một chỉnh thể để xử lý, mái lớn được tạo thành từng mảng không nhấn mạnh sự bay bướm, cửa kính lớn hai tầng trên không chia nhỏ mặt chính. Trang trí chi tiết chỉ chú trọng ở phần gác chuông trên mái tương ứng với sảnh chính được thiết kế hơi nhô ra, các gờ và cửa thông hơi dưới cửa sổ, mái hắt trên cửa sổ cũng được xử lý rất công phu.
Viện Pasteur là một tác phẩm kiến trúc được xây dựng theo hướng tìm tòi đến sự thích ứng với điều kiện khí hậu và văn hoá bản địa, là một đứa con tinh thần của trào lưu kiến trúc Đông Dương do Ernest Hébrard đề xướng.