Kiến trúc Trung thế kỷ Ấn Độ (P4)

Ớ Tanjore có đền Rajarajeshvara (hay còn gọi là Brihadesvara) là một trong những đỉnh cao của phong cách đền đài Nam Ân. Những công sự, thành luỹ và hào nước vây quanh ngôi đền là sự phản ánh rõ nét quyền lực bá chủ những năm đầu của vương triều Chola (850 -1310) dưới đời vua Rajaraja Đệ nhất (985 -1014).
Đền được xây để thờ thần Shiva ở kinh đô Tanjore vào khoảng năm 1010. Công trình là sự kết hợp giữa pháo đài và đền thờ, có những bức tường xây dựng công phu với lỗ châu mai và một chiến hào bao xung quanh. Diện tích của khu trường thành là 267m X 139m. Muốn vào bên trong ngôi đền du khách sẽ phải đi qua một cái cổng tháp dọc một trục dẫn đến Vimana cao 66m. Sau đó sẽ lên những bậc thang đi qua lãng mộ Nandi – con bò mộng (phương tiện đi lại của Shiva) vào một dãy sảnh Mandapa mái bằng, một khu có ba mươi sáu cột và thánh điện vuông vức. Nội sảnh của thánh điện có những bức tượng là biểu tượng khác nhau của thần Shiva và chư thần An giáo. Đi sâu vào trong qua những khoảng không gian càng lúc càng nhỏ và tối hơn, chúng ta sẽ bắt gặp hình lượng đế thờ phụng là một linga, trong garbhagriha. Linga là biểu tượng cùa tính dục nam.
Trên cái Vimana hình kim tự tháp mười ba tầng là một Stupaka với phần trên cùng mạ vàng. Trang hoàng cho cái tháp này là những mái vòm có sọc nổi, chaityas đề tài cửa sổ và những người lùn. Chiểu cao của tháp vào khoảng 54m, chiếc mũ tháp có đường kính hơn 6m và ước chừng khoảng 80 tấn. Để dưa được chiếc mũ tháp lên dứng vị trí, những người thợ xây dựng thời bấy giờ đã làm một đoạn đường dốc thoai thoải dài hai dặm (trên 3 km). Mặc dù tháp đạt được đến một trình độ kiến trúc cao, nhưng nhìn tổng thể thì công trình vẫn còn góc cạnh, không tự nhiên.
Có một hành lang hẹp, xù xì ở bèn trong những vách tường cúa ngọn tháp quanh điện thờ. Và trên những vách tường của hành lang này là những bức tranh tường. Chúng cho ta thấy nghệ thuật hội hoạ được thăng hoa trong thời kỳ Chola và dường như những môtíp về nhảy múa vẫn là chú đề được yêu thích.
Nhiều tác phẩm điêu khắc bàng đồng đỏ và đồng thau dược mang vào đền bằng những đám rước long trọng. Các tác phám điêu khắc là những pho tượng dơn độc trong những hốc tường hướng tới một lý lẽ tốt đẹp nào đó. Một trong những tác phám đó là bức tượng “Shiva – Chúa tể của nhảy múa”. Thần Shiva với tóc dài (dấu hiệu của khố hạnh) nhảy múa bên trong một vòng lửa. Một chân thần nhấc lên như muôn thoát khói vô minh, nơi mà chân kia của ngài chạm phải, biểu thị là một con quỷ. Vòng lửa bao bọc quanh thần Shiva tượng trưng cho nhịp đập con tim của vũ trụ. Việc nhảy múa của thần Shiva là có chu kỳ để huỷ diệt vũ trụ và sau đó vũ trụ tái sinh theo chu kì miên viễn của sinh tử, tử sinh không ngừng.
– Lăng Taj Mahal ớ Agra, vào thế kỷ thứ XVII, nền kiến trúc Hồi giáo Ấn Độ ở vào giai đoạn sung sức nhất trong lịch sử phát triển của mình. Một trong những điểm cao tột đỉnh của giai đoạn đó là toà lăng Taj Mahal (chiếc vương miện của Hoàng cung) ở Agra, kinh đô của nhà nước Hồi giáo Bắc Ân lúc bấy giờ.
Điéu kiện của đế quốc đại Mughal thế kỷ XVI, XVII khiến cho các triều đình Hồi giáo An Độ lúc đó có thể xây dựng những lãng mộ nguy nga, cung điện lộng lẫy.
Trong tập quán xây dựng Lăng vừa đê làm ly cung khi sống vừa đê đặt phần mộ khi chết của các vua Hồi giáo lúc đó, “viên trân châu Ân Độ” Taj Mahal đã ra đời.
Taj Mahal – một quần thể công trình lãng xứng đáng xếp vào hàng những kỳ tích mĩ thuật bới sự đồ sộ và vẻ tráng lệ của nó, là món quà cúa Hồi vương Shah Jahan (1628 – 1658) tặng cho vợ là Mumtaj I Mahal (ánh sáng của Hoàng cung), theo lời hứa từ những năm vợ mình còn sống.
Công trình này (xây dựng trong những năm 1630 – 1653) được nhân dân Ân Độ coi như là biêu hiện của tình yêu bất tử. Trong khi đó, nói riêng, nó là bằng chứng của lòng thương mến vô hạn của Shah Jahan đối với người vợ kiều diễm của mình qua đời đúng vào thời kỳ mà tình yêu đang trở nên mặn nồng, đầy đặn nhất.
Lăng Taj Mahal là một thành tựu trong nhiều thành tựu của nền kiến trúc Ấn Độ có lịch sử lâu đời 5000 năm. Lãng Taj Mahal lại là một thắng lợi của sự kết hợp hai nển văn minh phương Đông: An Độ – Ba Tư.
Taj Mahal – một khâu trong chuỗi vòng quý Sanchi, Ajanta (kiến trúc Phật giáo): Khajuraho (kiến trúc Bàlamôn – Hindu)… mang cốt cách chung không lẫn được của con người và suy tưởng Ân Độ, mặc dù khi xét chi tiết, ta phải đứng dưới góc dộ của thời gian, tín ngưỡng khác nhau.
Mặt khác Taj Mahal đứng trong hàng ngũ của những công trình kiến trúc Hồi giáo dòng Xarasin nổi tiếng (còn mang tên là kiến trúc Mahomet), góp phần vào những thành tựu của dòng nghệ thuật kiến trúc đến từ Trung Á này, diểm tô cho gia đình kiến trúc đạo Hồi với cương vị là một đứa con lớn.