Kiến trúc Trung thế kỷ Ấn Độ (P3)

Nơi tiến hành nghi thức tôn giáo

Đại chánh điện (Chaitya) ở Karli, Maharashtra có niên đại từ giữa những năm 100 và 120 và là thành quả vào giữa thời kỳ Andhra. Chánh điện ở Karbi được đẽo sâu vào trong núi đá, nằm cách phía đông Nam Bombay khoảng 100 dặm, ở trên đỉnh của dãy đồi phía Tây (theo “Lịch sử mỹ thuật Viễn Đông” của Sherman E. Lee do Trần Vãn Huân dịch, Nhà xuất bản Mỹ thuật ấn hành, trang 108).
Đây là một tác phẩm kiến trúc về nội thất, là nơi tập hợp các tín đồ để làm nghi lễ đi vòng quanh bảo tháp ở phần cuối nội thất của chính điện, ở công trình này, đi từ ngoài vào có một cổng vòm, rồi dẫn đến một cổng vòm phía trong (narthex), tiếp đến là một cổng vào chia làm ba lối vào, dẫn vào hai gian bên và cổng chính dẫn vào chính điện. Chính điện là một không gian dài được xác định bởi những chiếc cột, phía cuối chính điện là những chiếc cột chạy vòng quanh một bảo tháp. Các kích thước của chính điện này là: dài 37,8m; rộng 13,26m và cao 13,7m.
Số lượng của những chiếc cột tạo nên không gian chính điện là 37 cột hình bát giác, trong đó 7 cây cột bao quanh bảo tháp ở cuối chính điện không được trang trí, 30 cột dọc hai bên hông và phía trước sảnh được đặt trên những cái bệ hình bầu tròn. Đầu cột được trang trí bởi những hoa sen hình chuông úp ngược và được xoi rãnh, đỡ giàn nhiều bậc. Trên giàn nhiều bậc là những cặp nam nữ cưỡi trên những con voi quỳ hay những con ngựa. Qua cửa chính, ánh sáng sẽ làm nổi lên các hàng cột này và hình dáng uy mãnh của bảo tháp. Những khoảng không gian được khoét rỗng vào đá này đã làm xáo trộn các cảm giác về thực tại vật chất, về khối lượng, về không gian và về những gì là thực và những gì là hư (phi thực). Khách tham quan sẽ có cảm giác là đang ở trong những toà nhà bằng vôi vữa và gỗ hơn là đang ở trong lòng núi đá.
Có những hình nhân nam và nữ được khắc chạm ở phía ngoài đền thờ với quy mô to lớn được gọi là những người cúng dường. Đây cũng có thể là những cập tình nhân yêu đương. Chúng ta dường như choáng ngợp trước hình ảnh một người nam với đôi vai rộng và ngực nở, đôi hông hẹp trong thế đứng rắn rỏi bên cạnh một nữ nhi với đôi ngực và hông rộng, chiếc eo thon nhỏ. Hình ảnh một người nam và một người nữ được thể hiện thật to lớn và lành mạnh về thể chất, trong người tràn ngập một dòng sinh khí bất tận dường như ít thấy trong lịch sử mỹ thuật.
– Vihara (tu viện đặt ngầm trong núi đá) ở Ajanta là Vihara nổi tiếng nhất, nó bao gồm 26 hang động, trong đó có 22 Vihara, 4 Chaitya , những thạch động càng làm về sau có quy mô càng lớn, có cái bên trong chứa được 600 – 700 tu sĩ. Cả quần thể này ăn sâu vào một dãy núi lớn, hướng mặt ra một thung lũng hình móng ngựa.
– Bhubaneshwar nằm ở Orissa, một bang ở vùng Đông Bắc Ân Độ. Hầu hết những ngôi đền và điện thờ trong khu vực tập trung quanh một hồ nước lớn.
Đền thờ hoàn chỉnh xa xưa nhất ở Bhubaneshwar là đền Parashurameshvara khoảng nám 700. Ngôi đền này đánh dấu một giai đoạn đầu tiên ở phong cách Trung cổ miền Bắc. Ở đây từ tháp được biểu lộ rõ ràng. Cấu trúc tháp thẳng đứng nằm ở trên điện thờ. Tháp (shikhara) trên đền thờ này có những lớp đá nằm ngang và sơ đồ kiến trúc có vẻ là hình chữ nhật, giống một đền – hang thời nguyên thuỷ.
Đền Mukteshvara được xây dựng vào khoảng năm 950 là một trong những ngôi đền quyến rũ nhất, là viên ngọc quý của tất cả những ngôi đền theo phong cách miền Bắc. Đền Mukteshvara rất nhỏ – ngọn tháp không cao hơn 10 mét. Đền Mukteshvara khác biệt so với tất cả những đền khác trong nhóm ớ sự tô điểm bằng hình thức điêu khắc phong phú tiến gần đến hình thức khảm, như thể đá quý được treo trên bề mặt cua tháp, ở đền này, người ta sử dụng kiểu trang trí dựa trên môtíp mái vòm Chaitya. Những chiếc cột có những hình tượng điêu khắc trang trí mang đặc tính kiến trúc: hình người đàn bà – những người lùn bụng phệ ở trong những cái khung hình đang chống đỡ sức nặng đè lên họ.
Các ngôi đền ở Bhubaneshwar được xây bằng đá chlorite. Màu sắc của đá chlorite từ màu cam sang màu đỏ rồi đến màu tím. Dưới ánh sáng mặt trời rực rỡ của vùng Bắc Ân, những tảng đá chlorite tạo nên một ấn tượng giống như cây nấm có lốm đốm.
Ngôi đền lớn nhất ở Bhubaneshwar là Lingaraja, dường như được xây dựng nãm 1050, để thờ thần Shiva. Trên chóp tháp là tảng đá giống một tai nấm khổng lồ và kích thước của nó dường như quá nặng đối với ngọn tháp. Ớ đền Lingaraja hình thức điêu khắc ít nổi bật, thể hiện rõ trong việc trang trí không tinh xảo các ngọn tháp.
– Đền Kandarya Mahadeva ở Khajuraho (khoảng năm 1000 sau Công nguyên) thuộc bang Madya Prades, kinh đô của vương triều Chandella không giống những quần thể đền đài trải rộng ở Nam Ân, mà nó chụm lại một chỗ trên một bệ cao. Dọc theo trụ trục Đông Tây, chúng ta sẽ đến dãy cầu thang đi qua một dãy vòm đến mandapa và thánh điện thờ Linga của Shiva. Những vương miện trên các đỉnh tháp là biểu tượng hướng về một thế giới khác, thế giới của các thần linh. Các tháp là cầu nối giữa cõi trần thế và thiên giới. Để gắn các khối đá với nhau, những người thợ nề Ân Độ không dùng hồ vữa mà chỉ dùng rất ít đồ kẹp (mộng/chốt).
Hình ảnh của 800 bức tượng điêu khắc xoáy và nhún nhẩy trong những tư thế sinh động, tạo cảm giác các cột đỡ và các bức tường cũng chuyển động, làm hoạt náo các khối thế khác của toàn bộ cấu trúc. Các tượng đều có dáng cao, thân hình mánh mai, đôi chân dài. Nhiều tượng có tư thê rất kích dục, gợi tình.
Lúc nguyên sơ, ớ khu vực Khajuraho có tới 85 ngôi đền.