Kiến trúc Trung thế kỷ Ấn Độ (P1)

Từ kết thúc giai đoạn lịch sử cổ đại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ I đến giai đoạn đầu của thời kỳ Trung cổ thế kỷ thứ XII, nghệ thuật kiến trúc Ân Độ đã trải qua một số thời kỳ trung gian và chuẩn bị.
Thời kỳ chuyển tiếp từ thế kỉ thứ I – V là thời kỳ kết hợp giữa nghệ thuật kiến trúc Phật giáo An Độ và ảnh hưởng của nghệ thuật Hy Lạp, La Mã, Xiri, Iran vào Ân Độ.
Thời kỳ lịch sử Gupta, Hậu Gupta và Pala – Sena kéo dài từ thế kỉ thứ V đến thế kỉ thứ XII được chia ra ba thời kỷ nhỏ:
– Thời kỳ phong cách Gupta
Đây là giai đoạn kiến trúc cổ điển thịnh kì của Ấn Độ, các công trình đều có hình thức đơn giản, tỉ lệ hài hòa và làm bằng vật liệu bền vững hơn các giai đoạn trước.
– Thời kỳ phong cách Hậu Gupta
Vào thời kỳ này, nghệ thuật kiến trúc có hai điểm đáng chú ý là sự phát triển mạnh mẽ của chạm trổ đồ gỗ và tranh tường.
– Thời kỳ Pala – Sena
Nghệ thuật Gupta tiếp tục phát triển ở vương triều Phật giáo Pala (765 – 1086) và vương triều Hindu Sena (1118 – 1199) ở Bengal, nhưng biểu hiện ở những hình thức khô khan có tính chất ước lệ hơn.
Tinh hình chính trị của các giai đoạn lịch sử trên thường biến động. Ấn Độ phong kiến bị chia cắt thành nhiều vương quốc luôn luôn đánh lẫn nhau, nhưng nền vãn hoá lại thống nhất và chỉ thay đổi theo sự phát triển của tôn giáo là chủ yếu.
Chế độ phong kiến ở Ấn Độ hlnh thành vào thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ IX, nền kinh tế của nó mang tính chất tự cung tự cấp và rất ốm yếu, nên chỉ bước sang đầu thế kỷ thứ X, kiến trúc Ân Độ mới được hồi sinh kể từ “thời đại vàng” Gupta.
Kiến trúc Ấn Độ Trung thế kỉ là kiến trúc Tôn giáo, chủ yếu là kiến trúc đạo Hindu và kiến trúc Hồi giáo. Đạo Phật trước đây ra đời và thịnh hành ớ An Độ, đến thời kỳ này bị bài xích và chỉ còn lan truyền ở các nước khác, vì đạo Hindu trở thành thứ vũ khí lợi hại hơn trong việc duy trì địa vị của giai cấp thống trị và phong kiến. Đạo Jaina lúc này cũng yếu ớt và không có cá tính nên không có tác dụng mấy đối với kiến trúc.
Kiến trúc đạo Hindu Trung thế kỷ phát triển với quy mô lớn và đê lại khá nhiều công trình từ Bắc tới Nam An Độ; đó là loại kiến trúc chính thống được nhà nước ủng hộ và là một công cụ góp phần đắc lực vào sự đàn áp giai cấp rất tàn khốc bấy giờ.
Đối với các kiến trúc sư, các nhà điêu khắc An Độ nơi mà chữ “đẹp” ít dùng trong ngôn ngữ địa phương hoạt động kiến trúc chỉ đơn thuần là hoạt động tôn giáo. Đền đài được xây dựng bằng tiền quyên góp của nhân dân và việc nghệ sĩ tạo nên những không gian kiến trúc tôn giáo truyền thống nhiều màu sắc, những điêu khắc phức tạp công phu này đều nhằm mục đích phục vụ tôn giáo, thể hiện lòng tin đạo và cầu phúc của họ.
Muốn phàn tích được kiến trúc tôn giáo Hindu ta cần di vào nhận xét cụ thể hơn về địa điểm, thời gian, quy mô và giải pháp kiến trúc.
Về địa diểm và thời gian, kiến trúc Hindu có hai miền phát triển mạnh mẽ nhất là Bắc và Nam Ân Độ.
Ở Bắc Ấn Độ, đền đài Hindu ra đời sớm hơn (khoảng thế kỷ thứ IX); trong khi đó, ở miền Nam, việc xây dựng chậm hơn, nhưng kéo dài (từ thế kỷ XI đến tận thế kỷ XVIII).
Ở miền Trung Ấn Độ, kiến trúc Hindu mang tính chất kết hợp giữa hai kiểu kiến trúc miền Bắc và miền Nam, nên không có nét gì tiêu biểu lắm.
So với miền Bắc, về quy mô, kiến trúc Hindu miền Nam lớn hơn và tính quần thể mạnh hơn, có đền đài ở miền Nam tập trung đến hàng ngàn tãng lữ.
Điểm đáng chú ý nhất của giải pháp mặt bằng hình khối kiến trúc tôn giáo Hindu là cấu trúc mái, với hai loại khác nhau: loại mái đền có hình dáng những đường cong mềm vươn lên, trên đặt cái mũ hình lẵng bẹt (thường thấy ở miền Bắc) và mái đền hình Kim tự tháp đỉnh bằng (thường thấy ở miền Nam).
Vào thời kỳ này, những Stupa và đền đài – tu viện xây dựng ngầm trong đá đã biến mất, bắt đầu một thời kỳ xây dựng phổ biến những công trình ngoài trời với sự thừa hưởng ít nhiều tính chất của phong cách Gupta, ở chỗ mái đền được làm bởi nhiều tầng xếp dày lên nhau.
Kiến trúc miền Bắc Ấn Độ, ngoài cấu trúc mái “mềm” có lẵng bẹt (phần này còn gọi là bảo tháp) đặt bên trên, còn có những nét đặc trưng khác như công trình không có sân, đặt đơn độc trên những khu đất trống ở thành phố hay ở nông thôn, bao gồm các bộ phận mặt bằng môn sảnh, thần đường, phòng cầu phúc đều có dáng hình vuông và đôi khi còn có thêm các kiến trúc phụ khác.
Những đền đài Hindu miền Bắc Ấn Độ tiêu biểu nhất là đền Lingaraja (thế kỷ X) ở Bhuvaneshwar (miền Đông Bắc) và đền lớn Kandariya Mahadeva (thế kỷ X) ở Khajuraho (miền Trung Bắc Ân Độ).
Kiến trúc Hindu miền Nam Ấn Độ có mái là những khối kim tự tháp đỉnh bằng và được đặt trong những tường bao nhiều lớp hình thành các sân trong.
Nghệ thuật kiến trúc đên đài miên Nam An Độ có tính truyên cảm rất mãnh liệt: nhiều mái tháp cao có khi đến 50, 60 mét, tổ hợp bởi những đường thắng khúc triết, vươn lên sừng sững, khiến cho cả tổng thể công trình rất có sức mạnh. Những đền đài tôn giáo Hindu nổi tiếng nhất ở miền nam An Độ là đền Tiruvannamalai ở Tanjore (miền Tây nam Ân Độ), đền Tridambarama, (thế kỷ XI – XVIII) cũng ở Tanjore và đền lớn ở Maldurai (gần cực Nam Ân Độ), đến mãi thế kỷ XVIII mới hoàn thành việc xây dựng.
Từ thế kỷ XIII cùng với việc Hồi giáo xâm nhập Ấn Độ và việc xây dựng vương quốc Hồi giáo, văn hoá đạo Hồi trở thành một yếu tố quan trọng trong đời sống xã hội Ân Độ, dần dần đạo Hindu bị đẩy lùi xuống miền Nam.
Kiến trúc Hồi giáo đã để lại nhiều thành tựu rực rỡ như đền Thanh trấn Kutup (năm 1193) hiện nay vẫn còn lại di tích ngôi tháp của nó ở Delhi (cao 72,6 mét, đường kính đáy rộng 14 mét), đền Thanh trấn Jami Masjid (năm 1644 – 1658), lãng mộ Humayun (năm 1565) ở Delhi và Taj Mahal (năm 1630 – 1653) “viên trân châu” Ấn Độ, ở Agra.
Theo tập quán của các triều đình Hồi giáo Ân Độ, vua Hồi thường hay xây dựng lăng mộ cho mình ngay khi còn sống, làm ly cung để phục vụ cho những sinh hoạt ăn chơi vương giả, vì vậy loại công trình này thường có cái đẹp thế tục mà ít màu sắc tôn giáo.
Taj Mahal cũng là một công trình thuộc loại trên. Đây là một quần thể công trình lăng rất nguy nga, đồ sộ của Hồi vương Shah Jahan xây dựng cho vợ là Mumtaj I Mahan.
Đến nay, Taj Mahal được bảo vệ cẩn thẩn và nó không chỉ ỉà một di sản quý báu của văn hoá Ấn Độ, xứng đáng với cái tên “Viên trân châu” của nó, mà còn được coi như một công trình lịch sử đáng trân trọng của nền kiến trúc thế giới.