Kiến trúc thời kỳ dựng nước và giữ nước

• Sự phân chia giai đoạn một cách tổng quát kiến trúc thời kì dựng nước và giữ nước.
• Chế độ sống hang động và ngoài trời của những tập đoàn người nguyên thuỷ trong thời đại đồ đá cũ, đồ đá giữa và đồ đá mới.
• Làng xóm và nhà ở thời kỳ Hùng Vương dựng nước.
• Thành cổ Loa của Thục An Dương thời kỳ thành lập nhà nước Âu Lạc.
Mỗi người Việt Nam tự hào về Tổ quốc của mình hôm nay thấy rõ sự cần thiết đi ngược trở lại lịch sử lâu đời của dân tộc ta từ những ngày xa xưa dựng nước và giữ nước.
Những thời kỳ và những sự kiện cốt yếu dưới đây của thời đại lớn đầu tiên trong lịch sử nước ta – trong đó bao gồm quá trình phát triển kiến trúc – đã chứng minh cho thấy đó là một nền văn hoá lâu đời đã được hình thành, chung đúc một cách liên tục trong một hoàn cảnh đầy khó khăn.

Theo các tài liệu lịch sử, ngày nay chúng ta đã có thể khẳng định “Việt Nam là một trong những quê hương của loài người”.
Những bước đi đầu tiên của nền văn minh bản địa Việt Nam đang dần dần được dưa ra ánh sáng qua những dấu vết khảo cổ khai quật được.

Mặc dầu tre nứa nhiều nhưng trong thời kì manh nha tổ chức xã hội nàv, con người chưa biết làm nhà hắn hoi mà sổng trong hang đá và dưới những phèn che gió là chính.
Sau núi Đọ, ta thấy người vượn cổ Việt Nam tiếp tục kiêu cư trú ngoài trời với nhà ớ kiểu phên che gió ớ Xuân Lộc (Nam bộ), kiểu cư trú hang dộng ớ Tham Khuyên, Thấm Hai (Cao Lạng) và Thẩm Òm (Nghệ Tĩnh).
Đến thời kì 8 vạn nãm đến 4 và 3 vạn năm trước đây, vào cuối thời đại đồ đá cũ lúc bấy giờ con người đã sống theo chế độ thị tộc nguyên thuỷ và ớ trong những hang động của miền rừng núi đá vôi như hang Hùm (Yên Bái), hang Thung Lang (Ninh Bình) hay ở miền đồi trung du (Vĩnh Phú). Nển văn hoá ờ miền trung du này qua những di tích khai quật đưưc gọi là nền văn hoá Sơn Vi (Lâm Thao, Phú Thọ).
Nhưng nén văn hoá Sơn Vi thật ra không chỉ hạn chế ờ trung du – địa điếm chính cúa nó với lôi sống ngoài trời – mà còn có văn hoá Sơn Vi sớm với các địa điểm cư trú hang như Nậm 1’un, Hang Pông (Tây Bắc) và Con Moong (Cúc Phương) và nền vãn hoá Sơn Vi muộn với các phương thức cư trú ngoài trời ớ Chù, Bô Hạ, An Châu (Hà Bác).
Khoảng 1 vạn năm trước đây khi con người nguyên thuỷ Việt Nam bước vào thời kỳ đồ đã giữa, quá trình phát triển tiền sử dân tộc lúc bấy giờ được dánh dấu bằng nền văn hoá Hoà Bình.
Ở một địa phương ớ Hoà Bình, đã phát hiện ra một sô hang động nauvên thuý trong đó có Hang Muối có mái đá cao ráo, chiều rộng của hang 27m, chiểu sâu hang 1 lm và chiểu cao hang cao lới 13m; địa điểm cư trú này có nén cao hơn xung quanh hn, ở gần sông suối và còn lại cả một sô bếp nguyên thuý hình tròn, hình bầu dục hoặc hình không có quy tắc. Ớ nhiều nơi khác thuộc nển văn hoá Hoà Bình con người đã biết sống trong những túp lều đơn giản.
Đây là một nén vãn hoá vừa hang động, vừa ngoài trời cũng như nền văn hoá Bắc Sơn tiếp tục vào khoảng 5000 năm sau đó, khi xã hội nguyên thuỷ bước vào giai đoạn sơ kỳ cúa thời đại đồ đá mới, vào lúc bấy giờ ta thấy xu hướng bò hang dá đã rõ rệt hơn.

Cái bếp thông thường trong dân gian kê bằng đá đã bắt đầu có từ thời kỳ này.
Thời kỳ đồ đá mới có thể coi như thời kỳ quá độ giữa lối sống hang dộng của thời kỳ đồ đá cũ và đồ đá giữa và lối sống có làng xóm và nhà sàn hẳn hoi của thời đại đồ đồng. Cho nên lúc bấy giờ ngoài hang động, mái đá, có thể đã tồn tại kiếu nhà sàn thô sơ.
Đến khoảng thời gian từ 4000 năm trước đây trớ đi, thời kỳ nước Văn Lang hình thành và phát triển, tổ tiên chúng ta với những bộ lạc tộc Việt đứng đầu là vua Hùng đã mớ ra một trang sử mới. Đó là “thời kỳ xây dựng nền tảng dàn tộc Việt Nam, nền táng vãn hoá Việt Nam và truyền thông tinh thần Việt Nam” (Lịch sử Việt Nam) – Nhà xuất bản Khoa học xã hội, trang 66.
Đồng chí Trường Chinh đã viết về thời kỳ này của dân tộc như sau: “Dân tộc Việt Nam có một nền vãn minh độc đáo và lâu đời, Nước Văn Lang đời Hùng Vương đã là trung tâm một thời của nền văn hoá Đông Nam Á”.
Dân tộc ta lúc bấy giờ đã bám trụ chắc chắn ở miền Bắc nước ta ngày nay, lưng tựa vào vùng rừng núi phía Tây, mật hướng ra biển Đông và tạo nên được một nền văn minh đồng thau phát triển.

Sự hình thành kiến trúc thời kỳ này gắn liền với tinh trạng biển lùi với các làng xóm là làng gò, làng đồi và nhà ở là nhà sàn.
Những địa điểm xây dựng được chọn lúc bấy giờ là những đỉnh gò (di chỉ Phùng Nguyên, Lâm Thao, Phú Thọ), sườn đồi (Cam Thượng, Ba Vì, Hà Tây), chân núi
Quy mô, độ lớn của những làng xóm lúc bấy giờ thường rất khác nhau, có các khu vực lớn tập trung đông dân có khi diện tích tới hàng chục vạn mét vuông như các điểm dân cư tìm thấy ở Chính Nghĩa (Việt Trì, Phú Thọ), Đông Sơn, Núi sỏi (Thanh Hoá); có khu vực bé chỉ rộng vài nghìn mét vuông như các điểm dân cư tìm được ở Hữu Châu (Thanh Oai, Hà Tây), Phú Hậu (Lâm Thao, Phú Thọ); và diện tích trung bình thường thấy là vài ba vạn mét vuông (tương ứng với một làng có sức chứa 300 – 500 dân hiện nay).
Lối sông du mục, lang thang không còn đế lại dấu vết và các làng xóm đã được đặt cô định, có nơi tồn tại hàng ngàn năm cho tới hiện tại hoặc ít ra cũng trên dưới vài trăm năm.
Cây tre gắn bó với con người Việt Nam từ thời kỳ đồ đá nhưng chí hạn chế ớ một sô đổ dùng hoặc những hình thức tấm chắn gió, sang thời kỳ này đã được sử dụng để phục vụ trực tiếp cho kiến trúc một cách rộng rãi.
Một trong nhiều chức nãng của tre bấy giờ là làm luỹ tre bảo vệ làng. Lúc bấy giờ con người còn có thê làm hàng rào bằng tre đan và xé ván gỗ đế bao quanh xóm làng. Kiến trúc nhà ở lúc bấy giờ chủ yếu là nhà sàn vì đó là hình thức thích nghi nhất với địa hình, với khí hậu, và vật liệu xây dựng, con người có thê qua đó vừa đấu tranh lại vừa lợi dụng được thiên nhiên.
Nước ta sần tre gỗ, nứa lá, con người thường xuyên sông giữa vùng nước lội đổng bằng hay cây rừng trung du chưa khai thác hết, nhiều chỗ khu đất làm nền nhà là dổi gò hay triển núi có độ dốc thay đổi nhất định, điểu kiện khí hậu nóng ấm cũng như những yêu cầu chống thú dữ, tránh lũ lụt nên sự phát triển của kiến trúc nhà sàn là tất yếu.
Nhà có hình dáng mái cong hình thuyền, giữa mái võng xuống và sàn dật trẽn cọc thấp; kết cấu chịu lực chính là tre và gỗ, vật liệu để lát sàn là tre, trúc; do vật liệu xây dựng là thảo mộc và hoàn cảnh thiên nhiên khắc nghiệt, mưa bão nhiều nên mái nhà rất dốc; vì vậy đối với kiéu nhà hai mái dốc, cửa được trổ ớ hai đầu. Như vậy. mái nhà ãn nghiêng thảng xuống sàn, làm nhiệm vụ cúa tường ngoài luôn, vì vậy không gian ớ trong nhà do độ nghiêng của mái nên diện tích sử dụng có hẹp hơn diện tích thật.
Về công năng, trong nhà ớ chính chưa có vách nhưng kho đã được tách riêng và đật cạnh nhà ớ chứng tỏ kiến trúc đã bớt thô sơ. Bếp còn đặt trong nhà chính đế ớ phần giữa làm nơi tụ họp của gia đình luôn, hai gian hai bên làm nơi ớ, như vậy khái niệm vể nhà có sô gian lẻ (3 gian) bắt đầu có từ thời kỳ này.
Di tích nhà sàn thời đó có thế thấy rõ trên trông đồng thời đại Hùng Vương cũng như qua dấu vết đào được của nển vãn hoá Đông Sơn (Thanh Hoá), loại nhà sàn ớ đây được làm bằng những cột chống gỗ đinh dài tới 4,5m, mặt sàn cách đất trên lm. kết cấu nhà có những lỗ đục nên có thể bấy giờ đã có kiếu liên kết mộng đơn giản.
Cũng có nghiên cứu cho rằng lúc đó đã có nhà đất qua việc tìm thấy dấu vết bếp đun đào sâu xuống khỏi mặt nền khi khai quật những điểm dân cư ở Vãn Điến (Hà Nội). Gò Mun (Phú Thọ) và Thiệu Dương (Thanh Hoá).
Yếu tố thẩm mỹ trong nhà ở đã được chú ý đến bên cạnh những yếu tô’ về công năng. Những hình chim, hình gà – những động vật có cánh gần gũi nhất với con người đã được sử dụng tương đối phổ biến để tô điểm cho nhà ở thêm mỹ quan là những bằng chứng về sự phát triển của mỹ thuật thực dụng.
Trong thời kỳ lịch sử tiếp theo, từ nửa sau của thế kỷ III trước Công nguyên, vào lúc Thục Phán dựng nước Âu Lạc hùng mạnh đã xuất hiện một công trình kiến trúc có quy mô tương đối lớn rất đáng chú ý là thành cổ Loa.
Việc kinh thành được dời về vùng đồng bằng rộng rãi và có vị trí trung tâm toàn quốc chứng tỏ đất nước ta đã ổn định hơn về cương vực và mạnh mẽ hơn về chính trị, nhưng đó cũng là biểu hiện của sự phân hoá giai cấp ngày một sâu sắc.
Thành cổ Loa có quy mô so với tình hình lúc đó là lớn, bao gồm ba vòng thành, thành Ngoại dài 8km, thành Trung dài 6,5km và thành Nội dài l,6km, tổng chiều dài 3 toà thành hơn 16km. Kích thước hào sâu bao quanh thành không thống nhất, chỗ hẹp 10m, chỗ rộng 30m hay hơn nữa, mặt thành rộng từ 6 – 12m.