Kiến trúc Hội An và Mỹ Sơn

• Lịch sử của Hội An
Phố cổ Hội An có một vị trí địa lý thuận lợi, nằm cách thành phố Đà Nẵng khoảng 25km về phía Đông Nam. Nằm trên bờ bắc Sài Giang, nơi nhiều con sông lớn Quảng Nam hội tụ và đổ ra biển Đông ở Cửa Đại, lịch sử phát triển của khu phố Hội An luôn gắn bó chặt chẽ với đặc điểm hệ thống sông ngòi dày đặc của mình. Khoảng 2000 nãm trước ở khu vực này đã có một thương cảng nhỏ, trao đổi hàng hóa thuộc nền vãn hóa Sa Huỳnh. Vào thế kỷ thứ VII, theo phỏng đoán của các nhà khảo cổ, Hội An là một hải cảng chính của châu Amaràvatì, nằm ở phía Bắc vương quốc Champa. Khu vực này được mang tên Đại Chiêm hải khấu tức Hải cảng của nước Đại Chiêm vĩ đại. Thương cảng này gắn chặt với sự phát triển của hai địa danh quan trọng của vãn hóa Champa là kinh đô Simhapura tức Trà Kiệu ngày nay và thánh địa Srisanabhadresvara tức Mỹ Sơn ngày nay (Trần Kỳ Phương, 2004).
Thời kỳ phát triển của phố cổ Hội An bắt đầu từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII trong quá trình Nam tiến của người Việt. Khoảng năm 1540, người Bồ Đào Nha đã đến khảo sát vùng biển Hội An, đây là những thương nhân nước ngoài đầu tiên đến buôn bán với Đàng Trong. Trong bối cảnh đó, một mặt các chúa Nguyễn, với sự giúp đỡ của người Bồ Đào Nha, đã tổ chức chiến tranh với các chúa Trịnh ở miền Bắc, mặt khác tâng cường khai khẩn phương Nam, lấn chiếm đất của vương quốc Champa. Để tăng cường nội lực của mình, các chúa Nguyễn tăng cường mua bán với các nước trong vực. Vì vậy Hội An là đô thị thương cảng quốc tế phát triển rực rỡ vào bậc nhất của cả nước và cả khu vực Đông Nam Á. Đây được xem như cơ sở kinh tế trọng yếu bậc nhất của các chúa Nguyễn.
Tại đày các khu phố nước ngoài được tận hưởng những luật lệ đặc biệt nhằm bảo hộ cho việc buôn bán của người ngoại quốc. Bên cạnh đó, Hội An còn là một điểm dừng quen thuộc của con đường tơ lụa trên biển của các hải đoàn châu Âu. Có thể nói, Hội An đạt được đến đỉnh cao phát triển trong lịch sử của mình ở triều Nguyễn với sự góp mặt của các thuyền buôn từ khắp các nơi như Trung Quốc, Nhật Bản, Mã Lai, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp…

Kiến trúc Hội An và Mỹ Sơn 1

Sự suy tàn của Hội An bắt đầu từ thế kỷ 19, do sông Thu Bồn đổi dòng ớ vùng cứa sông. Cửa Đại bị phù sa bồi lấp, làm cho thuyền bè đi lại khó khãn. Bên cạnh đó, vào nãrr. 1888, vua Đồng Khánh triều Nguyền ký hiệp ước nhượng địa Đà Nẩng cho người Pháp, mớ cứa biển Đà Nẩng cho thuyển nước ngoài tự do thông thương qua cứa sông Hàn khiến Hội An mất đi vai trò thương cảng quan trọng cúa mình.
Trong quá trình CƯ ngụ, buôn bán đã nảy sinh sự giao lưu về ngôn ngữ, lối sống, văn hóa giữa người dân Hội An bản địa và các thương nhân nước ngoài. Chính nhờ có sự giao thoa vãn hóa đa dạng trong suốt chiều dài lịch sứ phát triển, đã đế lại cho Hội An một diện mạo kiến trúc phong phú, mang dấu ấn của nhiều nền vãn hóa khác nhau. Nhiểu công trình nhà ớ tôn giáo, công trình công cộng còn nguyên vẹn với các giá trị đặc biệt về lịch sứ và kiến trúc. Với những đặc điếm nổi bât về vãn hóa và kiên trúc như trên, năm 1999. Hội An đã đươc UNESCO công nhận là di sản vãn hóa thế giới. Đến nay khu phô cố Hội An vần bảo tổn gần như nguyên trạng một quán thể di tích kiến trúc cố gồm nhiều cõng trình nhà ò, hội quán, đình chùa, miếu mạo, giếng cấu, nhà thờ tộc, bến cảng, chợ… và những con đường hẹp chạy ngang dọc tạo thành các ô vuông kiểu bàn cờ.