Kiến trúc cổ đại Ấn Độ

Ấn Độ là một nước lớn ở châu Á và trên thế giới, có chiều dọc chỗ dài nhất 3220km và chiều ngang chỗ rộng nhất 2980km. Ấn Độ có nhiều dân tộc với ngôn ngữ, phong tục tập quán rất khác nhau, tạo nên một sự đa dạng đáng ghi nhận. Ngoài ra, Ân Độ là một nước đa dạng về tôn giáo và văn hoá gồm có Đạo Phật, Đạo Jaina, Đạo Hindu, Đạo Hồi, Đạo người Xích. Trong đó có Đạo Phật và Đạo Hồi là hai tôn giáo lớn trên thế giới.
Các tôn giáo đều là nguồn gốc tạo nên các biểu hiện nghệ thuật với mục đích là tỏ lòng thành kính các vị thần. Các tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất của Ấn Độ đều thể hiện sự trung hoà giữa Đạo và đời, giữa thần thánh và con người.

Kiến trúc cổ đại Ấn Độ
Ẩn Độ Cổ đại chia làm 3 thời kì
+ 3000 – 2000 năm trước Công nguyên là thời kỳ Văn hóa sông Ấn (Indus);
+ 2000 – 500 năm trước Công nguyên là thời kỳ Veda (Vệ Đà);
+ 324 – 187 năm trước Công nguyên là thời kỳ Maurya.
Từ năm 320 – 476 sau Công nguyên, là thời kỳ Vương triều Gupta, được xem như là thời kỳ chuyển tiếp sang Trung thế kỷ.
Vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên, Ấn Độ đã có một nền văn minh rực rỡ. Những người chủ của nền vãn minh này có trình độ về một số mặt cao hơn Ai Cập và Tây Á cùng thời kỳ đó. Thổ dân Dravida, lúc bấy giờ đã biết dùng công cụ đồ đá lẫn đồ đồng, biết trồng lúa, làm thuỷ lợi cũng như chăn nuôi, dệt vải, làm gốm và chạm đá.

Ở Ấn Độ thời kỳ này, chế độ nô lệ mới hình thành còn yếu ớt, chưa thoát ra được khỏi cái vỏ cứng của công xã nông thôn.
Mặc dù nhiều bí mật của nền văn minh sông Ấn vẫn còn chưa được đưa ra ánh sáng, nhưng qua một số di tích khảo cổ, người ta đã thấy được nghệ thuật xây dựng thành phố vùng lưu vực sông An này rất tiến bộ.
Dấu vết của các thành phố Mohenjo Daro và Sanhu Daro (ở vùng Sing) và Harappa (ở Punjab) đã chứng tỏ cho thế giới biết người Ân Độ tiền sử là những bậc tiên phong của môn quy hoạch đô thị.
Những thành phố này rộng hàng trăm hécta, được chia thành những khu phố vuông vắn bởi một mạng lưới đường sá chính và phụ thẳng tắp; đường rộng có nơi tới 10 mét và ở ngã tư các đường được miết tròn để xe cộ dễ đi lại. Trong thành phố còn có mạng lưới kênh cấp nước và thoát nước. Ngoài những nhà gạch đổ mái bằng, có tường ngăn không xây đến trần để thông gió, có cả nhà hai tầng, tầng dưới gồm bếp, nhà tắm, kho, giếng, và tầng trên là các phòng ở. Hoàng cung được xây dựng trên những khu vực đồi cao ráo.
Nổi bật lên là công trình giống như là Nhà tắm công cộng với một hộ thống dẫn nước tinh xảo để giữ nước ngọt. Xung quanh bồn nước là những gian phòng nhỏ có lẽ là nơi thay đồ. Công trình được xây bằng gạch cao 2,44m; dài 10,89m; rộng 7,01m.
Đến cuối thiên niên kí thứ II, nền văn minh sông Ân bị suy tàn và lí do của sự mai một đó cho đến nay vẫn chưa được giải đáp.
Những sự kiện lịch sử đáng chú ý của thời kỳ tiếp theo nền văn minh sông Ấn là:
– Người Aryan chinh phục Bắc Ân (khoảng năm 2000 trước Công nguyên) và đồng hoá với các bộ tộc Dravida.
– Sự hình thành nhiều nhà nước nô lệ Aryan vào thời kỳ Veda (khoảng năm 1500 – 1000 trước Công nguyên).
– Sự thi hành chế độ chủng tính, phân chia đẳng cấp trong xã hội và sự ra đời tín ngưỡng tôn giáo Hindu (Brama) nhằm duy trì sự bất bình đẳng cấp trong xã hội.
– Sự xuất hiện của đạo Phật (cuối thế kỷ thứ VI trước Công nguyên) và sự sáng lập vương quốc Magada (thế kỷ thứ IV trước Công nguyên).
Những di tích kiến trúc của cả một giai đoạn lịch sử khá dài trên của Ấn Độ không có mấy, chứng tỏ những công trình kiến trúc lúc bấy giờ được làm bằng gỗ. Tuy vậy cơ sở tư tưởng tôn giáo của thời kỳ này (đạo Hindu và đạo Phật) lại có tác dụng rất lớn đối với việc hình thành và phát triển của một nền kiến trúc đáng ghi nhớ của ấn Độ
sau đó.
Sau kiến trúc và điêu khắc tiền sử Ấn Độ, nền kiến trúc và điêu khắc cổ điển Ấn Độ thật sự bắt đầu từ vương triều Maurya (320 – 184 trước Công nguyên), tiếp tục vào các vương triều Shunga (184 – 73 trước Công nguyên) và Kanva cho đến thế kỷ thứ I sau Công nguyên.
Đa số những công trình kiến trúc của thời đại này được xây dựng vào những năm trị vì của vua Ashoka (264 – 227 trước Công nguyên), “thời Hoàng kim” của vương triều Maurya và đểu là kiến trúc Phật giáo.
Tác phẩm điêu khắc đáng chú ý của vương triều Maurya là những thạch trụ hoàng gia ghi những sắc lệnh của các vua và những lời dạy của Phật. Nổi bật hơn cả là cột đá chạm khắc các sắc lệnh của vua Ashoka. Chúng được làm bằng sa thạch Chunar màu kem xinh đẹp. Đầu cột của những thạch trụ này là những hình chạm trổ tinh vi thể hiện những kỹ năng khéo léo tinh xảo.
Đầu cột ở Samath là một trong những cột trụ dựng dưới thời vua Ashoka mà còn nguyên vẹn cho đến nay. Trên đỉnh của cột là bốn con sư tử đứng đấu lưng vào nhau. Chúng là biểu tượng của hoàng gia và Đức Phật. Bởi theo truyền thuyết Đức Phật là con sư tử của dòng tộc Thích Ca (Shakya), ngài mang dòng máu hoàng tộc. Bốn con sư tử oai vệ này ngự trên một trụ đứng với những hình chạm khắc nổi của bốn con thú và bốn bánh xe đan xen nhau. Ở thời bấy giờ, Đức Phật chưa được hiển thị trong hình dáng người mà chỉ ở hình ảnh tượng trưng. Vì vậy những bánh xe ở đây là biểu tượng của Phật pháp của Đức Phật và ngài đang thuyết giảng bài pháp của mình.
Những con thú trên trụ đứng tượng trưng cho những vị thần không thuộc Phật giáo phục vụ cho Đức Phật. Ví như: bốn con thú quay bốn hướng là biểu tượng cho vị thần linh của Hindu giáo. Con ngựa là biểu tượng của vị thần mặt trời khi ngài đi ngang qua bầu trời bằng chiếc xe ngựa. Bò là một vị thần trong đạo Hindu. Voi là bánh xe của vua trời Đế Thích (Inđra). Sư tử hiện thân của thần Durga.
Đế/bệ tượng là một cái chuông lật úp cách điệu hình một đoá sen. Hình ảnh tượng trưng cho sự thuần khiết của linh thể khi hiển lộ trong cõi phàm trần bởi hoa sen trong sạch và tinh khiết dù mọc trong nước bùn (theo “Những nền Mỹ thuật ngoài phương Tây của Michael kampen O’riley do Phan Quang Định dịch do Nhà xuất bản Mỹ thuật ấn hành trang 72).
Loại hình của kiến trúc Phật giáo thường thấy nhất bao gồm Stupa và những công trình kiến trúc ngầm trong đá.
Stupa là loại lăng mộ xây dựng dưới dạng một hình bán cầu lớn. Stupa nổi tiếng nhất mà ngày nay đã được trùng tu lại nguyên vẹn là Stupa ở Sanchi, đường kính lớn tới 32 mét, cao 12,8 mét, được đặt trên một bệ tròn cao 4,3 mét, xây dựng toàn bằng gạch, bên ngoài ốp đá. Lan can đã bao quanh cũng như bốn cửa vào cao 10 mét đều có chạm nổi rất tinh vi.
Những công trình kiến trúc ngầm trong đá (thạch động) chia ra hai loại khác nhau:
– Những kiến trục đục ngầm trong đá làm nơi tiến hành những nghi thức tôn giáo gọi là Chaitya. Mặt bằng của loại đền Chaitya hình chữ nhật và ở phần trong cùng của hang có hình nửa khối tròn có đặt một Stupa nhỏ.
– Nhũng kiến trục đục ngầm trong đá làm tu viện gọi là Vihara. Mặt bằng của loại tu viện (hay tịnh xá) này bao gồm một hình chữ nhật lớn xung quanh có nhiều ngăn nhỏ ãn vào đá làm phòng tu cho các vị sư.
Ngoài những công trình chủ yếu trên, kiến trúc cổ điển Ấn Độ còn nhiều cột ghi công để ghi công tích của người hoặc kỷ niệm một sự kiện và những đền đài làm bằng gỗ.