Khái lược lịch sử văn hoá Ấn Độ (P1)

Thời tiền sử

Đất nước Ấn Độ có lịch sử lâu dài với nhiều bước thăng trầm. Trong suốt quá trình phát triển cứa mình, Ân Độ đã thu nhận nhiều tộc người cũng như giá trị văn hoá từ nhiều quốc gia khác nhau. Tính đa sắc tộc, đa văn hoá cùng với hệ thống triết học và tôn giáo phát triển mạnh mẽ, lâu đời đã khiến cho nền văn hoá và tư tướng Ân Độ đạt đến độ sâu sắc, đa dạng và phong phú nhất thế giới.
Các nhà nghiên cứu văn hóa Ấn Độ, chảng hạn p. R. Rao xem xét văn hóa Ấn Độ như là một quá trình tiếp diễn từ thế hệ này sang thế hệ khác, cho rằng văn hóa thuộc về các cộng đổng người và nó bao gồm nhiều mô thức khác nhau, đó cũng chính là đề xuất cùa Kroeber.
Lịch sử văn hoá Ấn Độ có thể chia làm các giai đoạn lớn sau: Thời Tiền sử, thời cố đại thời Trung đại và thời Cận hiện đại.
Thời tiền sử
Thời tiền sư cua An Độ được đánh dấu bang nen văn minh sông All (Indus) với những trung tâm đô thị lớn đã được biết đến ở các di chỉ tại Harappa và Mohenjo Daro.
Nền văn minh cổ đó được hình thành và phát triển từ khoảng 2500 trước Công nguyên và có thể sớm hơn, kéo dài cho đến 1500 nãm trước Công nguyên. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vào thời kỳ này, Ân Độ đã có một nền văn minh đô thị phát triển rất cao, ngang bằng, thậm chí có những mặt hơn Lưỡng Hà và Aicập cùng thời. Trong nền văn minh sông Ân, chữ viết đã xuất hiện, nghề luyện kim, kim hoàn và nhiều nghê thủ công khác đã khá phát triển, người thuộc các đô thị Harrapa và Mohenjo Daro cũng đã có quan hệ thương mại đến tận Trung cận đông.
Về mặt kiến trúc xây dựng, các di chỉ của đô thị cổ cho chúng ta thấy những kỹ thuật đáng ngạc nhiên về tổ chức giao thông và xây dựng công trình, đồng thời, thể loại công trình cũng khá phong phú với nhà ở, cửa hàng, nhà tắm công cộng và nhiều loại nhà khác chưa rõ chức nãng. Người ta đã phát hiện những căn nhà ở nhiểu tầng và những đường phố lớn với góc đường ngã tư uốn tròn đê cho việc đi lại thuận tiện như ngày nay. Tuy nhiên, cũng qua kiến trúc, có thể thấy nền văn hoá vùng sông Ân không bị chi phôi nhiều bới tôn giáo như các vùng khác. Dấu tích kiến trúc tôn giáo lớn hầu như không có mặt tại Mohenjo Daro hay Harappa. Hình thức của tôn giáo ớ đây có phần nghiêng về phía đạo Hindu, việc thờ cúng các đối tượng tự nhiên như các loài thú, cây cối, sông, suối… bắt dầu xuất hiện.
Nền văn minh vùng sông Ấn đã không còn tồn tại từ cách đây 3500 năm. Những ảnh hưởng của nó đối với văn minh Ân Độ không hể nhỏ, nhưng không trực tiếp mà gián tiếp qua những tầng giao lưu với văn hoá Dravidian.
– , mf 7
Thời cố dại ở An Độ, kéo dài từ 1500 nãm trước Công nguyên đến thế kỷ thứ VII sau Công nguyên, là một giai đoạn đầy những biến động với những cuộc tổng hợp, tiếp thu văn hoá lớn cũng như sự ra đời của nhiều tôn giáo và hệ tư tưởng mới.
Trong thời cổ đại với việc người Aryan từ phương Bắc di cư xuống miền Nam, miền Đông đã dẫn đến một quá trình hoà trộn những yếu tố văn hoá du nhập với văn hoá bản địa đầu tiên ở Ân Độ.
Cư dân bản địa ở miền nam Ấn Độ là người Dravidian, vốn có một nền văn hoá phát triển khá sớm, từng có giao lưu với văn hoá sông Ân. Người Dravidian có ngôn ngữ từ rất lâu đời, văn học của họ đã xuất hiện vào khoảng 2500 năm trước Công nguyên. Đặc trưng lớn trong văn hoá Dravidian là họ không có hệ thống đẳng cấp khắc nghiệt và xã hội theo mẫu hệ. Bén cạnh đó, tôn giáo đã có vị trí khá quan trọng trong xã hội Dravidian, đối tượng thờ chính là Nữ thần Mẹ, là cây cối, rắn Naga, là ma quỷ và linh hồn. Về khía cạnh vật chất, người Dravidian đã xây dựng được những thành phố có tường bao quanh, biết tổ chức hệ thống thuỷ lợi để phục vụ nông nghiệp.
Có lẽ vào khoảng 1000 nãm trước Công nguyên những cư dân thuộc chủng tộc Aryan bắt đầu tràn vào An Độ từ phía Bắc, xâm nhập không gian cư trú của người Dravidian. Người Aryan là những bộ lạc bán du mục, mặc dù có văn hoá kém hơn, nhưng có sức mạnh quân sự hơn hẳn người bản địa đã dần dần chiếm lĩnh được hết An Độ bằng chiến tranh. Khi đã có địa bàn đứng chân chắc chắn họ tiếp tục tiến xuống miền Nam An với những đợt di dân bằng sức mạnh tôn giáo cho đến khi làm chủ toàn bộ bán đảo. Cuộc di cư vĩ đại này đã tạo ra quá trình hoà trộn tổng họp văn hoá giữa 2 dân tộc Dravidian và Aryan.
Người Aryan đã “mượn chế độ cộng đồng làng xóm, chính sách điền địa thuế khoá”, (Will Durant – Lịch sử văn minh Ân Độ) của người Dravidian, tổ chức lại đất nước thành những tiểu quốc nhỏ theo chế độ phong kiến. Mặt khác họ đưa vào đất Ân một tôn giáo mới, tôn giáo này kết hợp với những tôn giáo sẵn có tại địa phương thành tín ngưỡng chung cho toàn Ân Độ trong một giai đoạn dài cho đến 500 nãm trước Công nguyên. Người ta gọi đó là kỷ nguyên Veda, theo tên những bộ kinh ra đời trong thời gian này.
Các kinh Veda chứa đựng những yếu tố căn bản, đặt nền móng cho tư tưởng và văn hoá Hindu giáo sau này.
Từ cuối kỷ nguyên Veda, Ấn Đô bắt đầu phải đương đầu với hai cuộc xâm lấn từ phía Tây Bắc của người Ba Tư vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên và của Hy Lạp vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên. Người Ân sau đó giành lại được đất đai và lập nên triều đại Maurya thống nhất toàn bán đảo dưới một quốc gia tập quyền. Sau khi Ashoka, vị vua Maurya và là phật tử vĩ đại nhất qua đời, triều đại này tan rã một cách nhanh chóng, và đất nước bị chia rẽ dẫn đến hàng loạt cuộc xâm chiếm mới của người Bactria, người Shakas, người Kushan, mỗi tộc người lại lập ra một hoặc nhiều vương quốc ở phía Tây và Bắc Ân Độ.
Giữa những xáo trộn ghê gớm đó, hàng loạt tôn giáo mới ra đời, phát triển, đóng góp vào kho tàng văn hóa và tư tưởng Ân Độ những giá trị quý báu. Đáng chú ý nhất là sự huy hoàng của đạo Phật dưới triều Maurya và đạo Jain xuất hiện.
Đến thế kỷ thứ IV và V sau Công Nguyên, Ấn Độ bước vào một giai đoạn hoàng kim dưới triều đại Gupta. Trong thời kỳ này nền văn hóa An Độ đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ. Các vua triều Gupta nâng đỡ các nhà khoa học, nghệ sĩ, phát triển các ngành văn hóa tôn giáo, khoa học và nghệ thuật. Đặc biệt, các tôn giáo đều có cơ hội phát triển khá tự do, bình đẳng, kéo theo những môn nghệ thuật liên quan. Phía Hindu giáo, các học giả, tu sĩ phục hồi lại văn học Hindun, “làm cho tiếng Sanskrit trở thành một thứ thế giới ngữ cho khắp các nhà trí thức Ân Độ ” (Will Durant – Lịch sử văn minh Ân Độ). Còn nghệ thuật Phật giáo cũng phát triển mạnh, sản sinh ra được những tác phẩm hàng đầu như hệ thống bích họa trong các chùa hang. Tuy nhiên thời kỳ rực rỡ đó bị chấm dứt bởi những cuộc xâm lãng của Hung Nô. Sang thế kỉ thứ VII, triều đại Harsha đẩy lui Hung Nô và phục hồi được phần nào nền hòa bình và không khí văn hóa thời Gupta. Vị vua lập quốc Harshavarhana, là một minh quân có tâm hồn và tài năng của nghệ sĩ, đồng thời lại có chính sách khoan dung với mọi tôn giáo. Chính vì vậy, văn hóa Ân Độ, đặc biệt là văn hóa Phật giáo lại thịnh đạt trong một thời gian dài.