Con đường hiện tại của kiến trúc Đông Nam Á

Mary Somers Heidhues, tác giả cuốn “Lịch sử phát triển Đông Nam Á” từng viết: “Thoạt nhìn, Đông Nam Á thể hiện sự đa dạng và phân hoá đáng kể. Nhìn kĩ hơn ta thấy những tương đồng tiềm ẩn và sự thống nhất cơ bản. Trong khi những yếu tố chính trị, lịch sử và tôn giáo đã khiến các dân tộc và quốc gia Đông Nam Á hoàn toàn khác biệt nhau, thì về cơ bản khu vực này vẫn giữ sự thống nhất nhờ vị trí, khí hậu và nhiều đặc điểm văn hoá chung”.
Đông Nam Á ngày xưa đã chiếm một vị trí quan trọng trên bản đồ thế giới, Đông Nam Á ngày nay càng chiếm một vị trí quan trọng hơn trên bản đồ thế giới. Những người phương Tây, từ rất sớm, đã nhìn ra vai trò đáng kính nê của Đông Nam Á, là giao lộ của các luồng buôn bán thương nghiệp, là nơi có các thuỷ lộ thuận tiện, là nơi có những ngôi đền khả kính cũng như là những vựa lúa giàu có của một nền văn minh lúa nước lâu đời… nên đã đật vấn đề xâm lược và chia rẽ Đông Nam Á từ mấy trăm năm trước.
Bản thân Đông Nam Á, trước khi phương Tây xâm nhập, đã là một sự đại hội nhập của 3 nền vãn hoá lớn: Văn hoá bản địa, văn hoá đến từ Ân Độ (nên nhiều nước Đông Nam Á được gọi là các nước thuộc thế giới Ân Độ hoá) và vãn hoá đến từ Trung Hoa. Các nền văn hoá này hoà nhập, mâu thuẫn, cộng sinh hay va đập, cuối cùng tồn tại và dung hoà trên các khu vực Đông Nam Á này.
Đi sâu nghiên cứu con đường hiện tại của kiến trúc Đông Nam Á, chúng ta không thể không “ôn cổ tri tân”, mặc dù nền kiến trúc hiện đại và đương đại một số nước Đông
Nam Á đang tăng tốc một cách kinh khủng và có khi có những cắt đoạn với truyền thống. Tuy có những sự cắt đoạn đó là có đổi mới không ngừng, nhưng tinh thần Đông Nam Á vẫn tiếp diễn và luôn luôn bất diệt, cho nên có hai vấn đề lớn mà chúng ta cần xem xét:
+ Ôn lại quá khứ hào hùng của nền kiến trúc Đông Nam Á.
+ Đi vào trọng tâm chính là nghiên cứu thành tựu của Kiến trúc Đông Nam Á giai đoạn hiện tại.

Con đường hiện tại của kiến trúc Đông Nam Á 1

1. Khái quát một số nét về kiến trúc truyền thống một số nước Đông Nam Á
Tuy các nước Đông Nam Á là một số nước thuộc thế giới Ấn Độ hoá nhung sự mạnh mẽ của Đạo Phật, Đạo Hindu hay Đạo Hồi ở Đông Nam Á được thê hiện không kém gì ở Ân Độ; bằng chứng dễ thấy nhất là một sô công trình kiến trúc của Đạo Phật ở Indonesia và Campuchia, to lớn hoành tráng hcm cả kiến trúc Đạo Phật ở Ân Độ, các loại đền đài khác ở Thái Lan, ớ Myanmar cũng lộng lẫy vàng son không kém nhũng nơi có kiến trúc truyền thống danh bất hư truyền trên thế giới.
Sức bật của sự phát triển nghệ thuật kiến trúc Indonesia, đặc biệt là ở Java, vào các triều đại Sailendra (thế kỷ thứ VII), dẫn đến việc xây dựng Đại Stupa thông tiền khoáng hậu Borobudur (khoảng nãm 800 trở đi), có kích thước mặt bằng 110 X 110 mét, bên trên nâng dần lên là 5 bản phẳng lên đến độ cao 45 mét. Còn bằng chứng của kiến trúc Hindu ở Java là ngôi đền Prambanan.
Nghệ thuật Khmer ở Campuchia cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của nghệ thuật Ấn Độ, nó nở hoa từ thế kỷ thứ VII ở Sambor Preikuk, bắt đầu định hình một phong cách đặc biệt, sau đó chín muồi ở khu vực Angkor, bắt đầu từ Kulen, đến thế kỷ thứ IX ở Proluos. Ở những nơi này đã sử dụng những barays – hồ nước – như là những hệ thống thuỷ lực vừa gắn bó với việc xây dựng các quần thê đền đài vừa dùng đê phát triển văn minh lúa nước. Ngôi đền núi Bakony ờ Roluos được xây dựng vào năm 881 bởi Indravarman, đó là một “thành phô đền đài” còn có tên là Haryharalaya, được tạo thành bởi 5 tầng hiên và 4 trục là 4 lối lên. Khoang tường cũ ớ trong đền đến thế kỷ XII được thay bằng một ngôi đền khác. Xung quanh đỉnh cao kim tự tháp là một loạt các ngôi đền phụ có tên là Prasats.
Việc xây dựng Phnom Bakheng, Pré Rup, Banteay Snei, Takéo đã dẫn đến việc xây dựng một đỉnh cao nghệ thuật cổ điển là Angkor Vat, được xây dựng bởi Suryavarman II, có đường vào như một cái đê vượt qua một cái hào rộng 200 mét, tiếp theo là một Propylées, một đường trục dài 300 mét, với hai thư viện 2 bên, hai hồ nước hai bên và ngôi Đại tự (chùa lớn, chùa chính). Toà thành phố – đền đài này có diện tích lkm2.
Đỉnh cao tiếp theo là Angkor Thom, được xây dựng vào khoảng năm 1200 bới Jayavarman VII, một thành phô đền đài với một cấu trúc nhiều thành phần mà tâm điểm là đền lớn Bayon.
Angkor Thom Bayon là một đền đài Phật giáo, một ngôi đền – núi có những tháp lớn, hùng vĩ được tạc lên đó các khuôn mặt của nhà vua (bodhisattva) ngoài khu vực trung tâm, có 54 tháp vệ tinh tạc khắc 216 khuôn mặt. Lịch sử Angkor Thom khép lại với sự xâm lăng của người Thái, địa danh có lúc có tới 80 vạn dân này sau đó không còn tiếp tục phát triển.
Nhưng ở Indonesia và ở Campuchia không chỉ có các đền đài lớn mà còn có một nền kiến trúc nhà ở dân gian rất độc đáo. Indonesia với 3000 hòn đảo lớn nhỏ có những nhà ở của bộ tộc Badui, nhà ở của bộ tộc Batác, bộ tộc Toratja và bộ tộc Minanykabau. Nhà ở Minanykabau có hình thức mái cong vuốt lên tượng trưng cho những cái sừng trâu bò và ở giữa có hình yên ngựa.
Nhà ở Campuchia không quá cầu kì, chú ý đến tổ hợp không gian và thích hợp với khí hậu, coi trọng thông gió tự nhiên, kiểu nhà sàn có cột cao 2m, 2,5m để chống côn trùng và lũ lụt.
Kiến trúc Thái Lan và kiến trúc Myanmar truyền thống cũng là những đối tượng rất cần nghiên cứu của kiến trúc Đông Nam Á.
Trong cuốn “Kiến trúc Thái Lan và Thủ đô Bangkok của PGS. KTS. Trần Hùng, tác giả đã nghiên cứu các giai đoạn phát triển lịch sử then chốt của Thái Lan là những thời kỳ Vương quốc Nam chiếu, thời kỳ Sukhothai, thời kỳ Authia, thời kỳ mở cửa tiếp xúc với phương Tây và thời kỳ Bangkok.
Phong cách kiến trúc và nghệ thuật Sukhothai (thế kỷ XIII – thế kỷ XV) là phong cách cổ điển và kinh điển nhất, có các tác phẩm tiêu biểu như các tháp Chedi Ngam, Vat Changrop, Vat Trapang Miang, Vat Chedi Sung.
Vào các thời kỳ sau này, các viên ngọc quý của nghệ thuật Thái Lan cần kê ra là tháp Phra Budha Prang, cao 67 mét (1842), Stupa ở Vat Phra Keo (chùa Ngọc) và quần thể kiến trúc Hoàng cung ớ Bangkok.
Nếu cãn cứ vào một số nghiên cứu khác, nền kiến trúc và Mỹ thuật Thái Lan được chia thành các giai đoạn chi tiết hơn như sau:
1. Thời kỳ tiền sử
2. Then kỳ Thái Lan Ấn Độ hoá
3. Thời kỳ Dvaravati (thế kỷ VI – XI)
4. Thời kỳ Srivijaya (thế kỷ VIII – XIII)
5. Thời kỳ Lop Buri (thế kỷ X – XIV)
6. Thời kỳ Sukhothai (thế kỷ XIII – XV)
7. Thời kỳ Lanna (thế kỷ XIII – XVI)
8. Thời kỳ Auythaya (1350 – 1767)
9. Thời kỳ Bangkok (1782 – 1900)
10. Thời kỳ nghệ thuật hiện đại (từ 1900 đến nay)
Ý nghĩa chữ thời kỳ trên đây nên hiểu là phong cách thì đúng hơn (sớ dĩ có sự trùng lặp về niên đại là do các phong cách đó phát triển ở các vùng miền khác nhau).
Nói đến nền kiến trúc truyền thống vàng son của Myanmar, chúng ta cần đề cập đến 3 chủ đề: kiến trúc tôn giáo, kiến trúc dân gian và kiến trúc cận đại.
Về kiến trúc tôn giáo, những chế định của việc xây dựng đền đài như ở Bagan đã ra đời từ thế kỷ XII. Hệ thống mái ở cung Mandalay cũng bộc lộ một nhịp điệu bay bổng khó lấy gì so sánh nổi.
Không chỉ ở thành phố chùa Tháp Bagan, mà ở Rakhine (Mrak-U), Ava, Amarapura, Sagainy, là những nơi dầy đặc những di sản quý báu.
Đỉnh cao của nền kiến trúc này là ngôi chùa lớn Shwedagon ở Rangoon (nay là Yangoon), với Stupa cao nhất cao tới 100 mét, sơn son thếp vàng, cùng với vô số các stupa nhỏ hơn, các hệ thống kiến trúc, điêu khắc danh bất hư truyền khác.
Tác phẩm tiêu biểu của kiến trúc Cận đại Myanmar phải kể ra là khu vực Rangoon cổ, tu viện ở Saaging.
Với kiến trúc Cận đại Singapore, từ năm 1819 đến nãm 1867, là thời kỳ mà dân bản địa hỗn dung với những cái mà Công ty Đỏng An mang đến, đã tạo nên China Town, Toà nhà nghị viện cũ, nhà thờ Avmenian, đền thờ Siri Mariamman, khu vực Little India.
Từ nãm 1867 đến năm 1918, Chủ nghĩa thực dân bắt đầu phát huy tác dụng mạnh hơn, xây dựng The Istana (Toà nhà chính phủ cũ), khách sạn Raffles, Bảo tàng Dân tộc. Sau đó, tiếp tục cho đến năm 1942, Toà án Tôi cao được hoàn thành, cũng như Toà thị chính và sân bay Kallang. Nền kiến trúc Singapore từ nãm 1942 trờ đi, được xem là kiến trúc hiện đại và đương đại, sẽ được xem xét ở phần sau.
Việc xem xét nền kiến trúc Cận đại Malaysia được bắt đầu từ năm 1920, với các giai đoạn:
1920- 1930
1931 – 1940, những năm bắt đầu một tinh thần mới.
1941 – 1950, những năm chiến tranh
1951 – 1960, những năm hậu chiến
1961 – 1970, những năm chuyến tiếp
Từ thập niên 70 trở đi, kiến trúc Malaysia bước sang một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên xác định bản sắc dân tộc.
Những tác phẩm tiêu biểu chuẩn bị cho thời kỳ này, ra đời từ những nãm 1960, là The Chartered Bank ở Kuala Lumpur (1964), Sân vận động Negara ở Kuala Lumpur (1962), Bệnh viện Đại học Y khoa ở Petaling Jaya (1965) và chung cư cao tầng Tuanku Abdul Rahman ở Kuala Lampur (1969).