Các thành tựu của Văn hoá truyền thống Trung Quốc

– Về Triết học
Với niềm khao khát mãnh liệt tìm kiếm cho mình một đường lối đúng đắn để thúc đẩy đất nước được ổn định thống nhất, xã hội tiến tới những bước phát triển mới, nhân dân có cuộc sống yên bình ấm no, cuộc chiến đấu tranh dành giữa các trường phái trong thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc – một thời kỳ lịch sử đấy biến động – mà lịch sử Trung Quốc gọi là “Bách gia tranh minh” (Trăm nhà học giả tranh nhau lên tiếng) đã bùng nổ. Bằng việc đánh giá và nhận định của các học giả đời sau thì nổi bật nhất trong số các trường phái ấy đó là: Nho gia (tiêu biểu là Khổng Tử, Mạnh Tử), Đạo gia (tiêu biếu là Lão Tử và Tran^ Tử), Mặc gia (Mặc Tử) và Pháp gia (tiêu biểu là Ilàn Phi Tử).
Mỗi nhà triết gia đều mang trong mình những tư tưởng về triết học khác nhau nhưng tất cả đều hướng tới một mục đích và niềm khát khao chung đó là nhằm cải biến xã hội hiện thực đương thời mà họ cho là thối nát, tồi tệ, đen tối, bất hợp lý để tiến tới một xã hội tốt đẹp hơn.
Nho gia: là trường phái tư tưởng quan trọng nhất ở Trưng Quốc trong hơn 2000 năm lịch sử đã nêu lên triết thuyết và quan niệm đạo đức. Khổng Tử là người đầu tiên đặt nền móng vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Nho là những người có học thức, có văn hóa, nhưng không có quyền thế, những người muốn tôn sùng cái đẹp của mối liên hệ con người với con người, con người với xã hội (Đãng Đức Siêu [1]). Trung tâm của học thuyết của Khổng Tử là xem trọng chữ Nhân, đó là hiếu đễ, là nhân bản là tuân thủ chế độ đẳng cấp, có yêu, có ghét, chữ Nhân phải gắn liền với chữ Lễ. Học trò của Khổng Tử đông tới 3000 người, trong đó có 72 người rất kiệt xuất. Trong khi đó, về sau, Mạnh Tử thêm vào các lý luận điểm Vương dạo, Nhân chính và Tính thiện.
Đạo gia: là một hệ tư tưởng triết học, xã hội, chính trị hình thành vào thời Xuân Thu -Chiến Quốc với hai nhân vật tiêu biểu là Lão Tử và Trang Tử. Đạo gia xem thế sự là phù du, hư ảo, thông cảm và đồng tình với những đau khổ của nông dán và những người nghèo, nhấn mạnh khái niệm “vô vi” (thuận theo lẽ tự nhiên), chủ trương sống giản dị, thuần phác, sống như “thời xưa”. Cuốn sách quan trọng nhất của Lão tử là cuốn Đạo Đức Kinh, xem Đạo là nguồn gốc chung, là cội nguồn phổ quát, là quy luật khách quan của thế giới vật chất.
Mặc gia: do Mặc Tử sáng lập với tư tưởng chính trị phản ánh yêu cầu của nhân dân lao dộng chống lại sự lũng đoạn quyền hành và sự tàn bạo của giai cấp thống trị. Mặc Tử (Mặc Địch) sinh năm 480 trước Công nguyên, lúc đầu theo Nho gia nhưng sau thành lập học phái riêng, ông là một nhà tư tưởng, còn là một nhà phát minh, vì xuất thân ở tầng lớp dưới nên học thuyết của ông cũng đại diện cho tầng lớp “tiện nhân” trong xã hội. Khẩu hiệu của Mặc gia là “trọng dụng nhân tài”, “xóa bỏ ranh giới giữa người sang và người hèn”, “quan tâm lẫn nhau” và “phản đối bất công, vô lý” trong xã hội. Đó chính là những quan điểm “thương thượng hiền” và “kiêm ái”.
Pháp gia: là trường phái chủ trương dùng pháp luật để cải cách chính trị nó xuất hiện vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc mà người khởi xướng đầu tiên là Quản Trọng. Tác phẩm quan trọng nhất của Pháp gia là cuốn Hàn Phi Tử do Hàn Phi (280 – 233 trước Công nguyên) biên soạn, chủ trương dung hòa Pháp – Thuật – Thế, coi trọng Pháp trị, coi nhẹ việc Phục cổ, thuyết này về sau được nhà Tần lợi dụng vào mục đích riêng.
– Về Văn học
Ngày nay nền văn học Trung Quốc vẫn được coi là lâu đời nhất trên thế giới, nó đã để lại không chỉ cho nhân dân Trung Quốc mà cho cả nhân loại một kho tàng văn học rất đa dạng, phong phú về nội dung, sâu sắc về tư tưởng, tinh tế và điêu luyện về phương thức thể hiện. Chúng phát triển linh hoạt qua mỗi thời kỳ và phản ánh chân thực mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi vương triều, hấp dẫn người đọc thể hiện một nền vãn hóa vô cùng to lớn.
Kinh thi là mốc mở đầu cho nền Văn học Trung Quốc trước khi thống nhất các vương triều.
Trong xã hội thời phong kiến, các tác phẩm văn học Trung Quốc đã để lại trong kho tàng nhân loại nhiều kiểu văn học với những nét đặc sắc riêng của từng thời kỳ
tiêu biểu là Phú đời Hán, thơ đời Đường, từ đời Tống, kịch đời Nguyên và tiểu thuyết dời Minh Thanh.
– Về Sử học
Cho đến ngày nay nhiều trang ghi chép về lịch sử rất có giấ trị của Trung Quốc vẫn được lưu giữ cẩn thận mặc dù cũng có một số trường hợp bị hư hỏng do việc bảo quản và gìn giữ thời gian trước vãn còn lạc hậu.
Tư Mã Thiên là người đầu tiên đánh dấu việc ghi chép lại sử sách và từ đây sử học mới trở thành một lĩnh vực độc lập như nhiều lĩnh vực đa dạng khác của Trung Quốc
Với bộ Sử ký của Tư Mã Thiên, bộ thông sử đầu tiên đã cung cấp nhiều diễn biến lịch sử quan trọng có giá trị cao về mặt vãn chương và tư tưởng. Nó đã ghi lại một cách sống động trang sử hào hùng của Trung Quốc từ thời Hoàng Đế đến thời Vũ Hán Đế trải dài 3000 năm được chia làm 5 phần: bản kỷ, biểu, thư, thế gia và liệt truyện. Có thể giải thích về 5 phần trong Sử ký mà Tư Mã Thiên đã ghi lại như sau: Bản kỷ là sự tích về sự ra đời và cuộc sống cúa các đời vua; Biểu là các bảng tổng kết về niên đại; Thư là lịch sử các chế độ các ngành riêng biệt như kinh tế, nhạc…; Thê gia là lịch sử các chư hầu và những người có danh vọng; Liệt truyện là truyện các nhân vật và sự việc lịch sử khác nhau.
Ngoài Sử ký còn có Hán Thư của Ban Cố; Tam Quốc Chí của Trần Thọ, Hậu Hán Thư của Phạm Việp đều là những tác phẩm sử kí có rất nhiều giá trị.
Từ đời nhà Đường, cơ quan chuyên trách biên soạn lịch sử Nhà nước phong kiên đã được thành lập được gọi là “sử quán”. Từng triều đại qua nhiều bộ sử sách lớn đã được biên soạn và ghi chép rất công phu đầy đủ từ Sử ký đời Hán đên Thanh Sứ Cảo nhà Thanh đã lên tới 26 bộ gồm 4042 quyển. Chính quốc sử quán đời Đường đã soạn được các bộ sử Tấn Thư, Lương Thư, Trần Thư, Bắc Tể Thư, Chu Thư, Tuỳ Thư, Cựu Đương Thư, Tân Đường Thư. Các bộ sử về các triều đại sau đó đểu do nhà nước biên soạn như Tống sử, Nguyên sử, Minh sử.
Những tác phẩm sử học ở trên là di sản vãn hoá vô cùng to lớn và giá trị của Trung Quốc. Hầu hết các tác phẩm đang được nhà nước Trung Quốc bảo quản cẩn thận và khôi phục lại những tác phẩm đang nguy cơ bị hư hỏng.
– Về Khoa học Kỹ thuật
Quyển “Cửu chương toán thuật”, trong đó nêu ra các phương pháp tính toán ruộng đất theo các hình thức khác nhau, cách tính khối lượng đất đá đào đắp, cách giải phương trình bậc một có nhiều ẩn số đã được tương truyền từ thời nhà Hán. Tổ Xung Chi là người đầu tiên của Trung Quốc đã tính được số Pi với bảy con số lẻ (3,1415926 hoặc 3,1415927), phát minh này của ông đã sớm hơn những nhà toán học khác trên 1000 nãm.
Chia một năm thành 24 tiết để căn cứ vào đó nông dân biết các thời vụ sản xuất khác nhau để phục vụ tốt cho sản xuất nông nghiệp đó là nông lịch – phát minh của người Trung Quốc từ thời Tần Hán. Đây là một trong những hiểu biết đầu tiên của người Trung Quốc trong lĩnh vực thiên văn học. Tiếp cận với thiên văn học đầu tiên đó là nhà thiên văn học nổi tiếng Trương Hành (78 – 139) thời Đông Hán, ông đã đoán thiên thể như hình quả trứng trong đó quả đất như lòng đỏ. Theo như suy nghĩ của mình ông đã sáng chế ra mô hình thiên thể gọi là “hồn nghiên thi” và một dụng cụ để đo động đất là “địa động nghi”, có thể dò chính xác phương hướng của những trận động đất. Những phát minh của ông đến ngày nay vẫn được coi trọng như những bài học có giá trị trong sự nghiệp phát triển thiên văn học của Trung Quốc.
Nói đến y học Trung Quốc là nhắc tới các phương thuốc truyền thống với nhiều thầy thuốc giỏi mà đến nay những bài thuốc đó vẫn còn những nguyên giá trị trong việc chữa bệnh thuộc Đông Y của Trung Quốc. Đời nhà Hán một thầy thuốc nổi tiếng và cũng là người đầu tiên ở Trung Quốc đã biết dùng phẫu thuật để chữa bệnh là Hoa Đà. Việc phòng bệnh bảo vệ sức khoẻ bằng cách luyện tập thân thể thường xuyên đều đặn cho huyết mạch lưu thông là một phương pháp mà theo ông chúng rất hữu ích và có tác dụng lâu dài. Ông là người đã biên soạn ra bài thể dục “ngũ cầm hí” đó là những động tác bắt chước 5 loài động vật: hổ, lươn, gấu, vượn và chim. Đến thời nhà Minh, tác phẩm “Bản thảo cương mục” của nhà y học nổi tiếng Lý Thời Trân đã giới thiệu 1558 vị thuốc do người đời trước tìm ra và thêm vào đó 374 những vị thuốc mới. Bằng cách sắp xếp và giải thích một cách khoa học như việc phân loại, đặt tên, nêu rõ tính chất, công dụng và kèm theo hình vẽ một cách sống động, sự ra đời của cuốn “Bản cương thảo mục” đã đẩy
ngành y học của Trung Quốc phát triển một cách nhanh chóng và mạnh mẽ tiến tới một tầm cao mới.
Cho đến ngày nay người Trung Quốc hoàn toàn hãnh diện và được thế giới đánh giá cao vể bốn phát minh trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật đó là: giấy, kĩ thuật in chữ rời, la bàn và thuốc súng. Bốn phát minh này là những cống hiến to lớn của nhân dân Trung Quốc đối với nền văn minh thế giới.
Các thành tựu của Vãn hóa Trung Quốc dưới thời phong kiến đã phát triển rực rỡ. Những thành tựu lớn lao mà chúng ta đã đề cập ở trên đã cho Trung Quốc không chỉ trở thành cái nôi trung tâm của nền văn hoá châu Á mà còn trên thế giới.