Các loại hình kiến trúc truyền thống Trung Quốc và các tác phẩm tiêu biểu (P4)

• Nghệ thuật Hoa viên
Đã có một nhà nghiên cứu Trung Hoa từng nói: “Nếu cung điện đại biểu cho kiến trúc Đế vương, đền miếu đại biểu cho kiến trúc Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo, thì viên đình là đại biểu cho kiến trúc của văn nhân. Điều đó có nghĩa là Nghệ thuật hoa viên hay Kiến trúc viên lâm luôn luôn bộc lộ ra cái gọi là khí chất của văn nhân.
Nghệ thuật viên lâm bao gồm 4 yếu tố lớn là: sơn, thuỷ, thực vật và kiến trúc. Xử lý không gian kiến trúc của nghệ thuật viên lâm là tạo thành hệ thống không gian mở với hành lang thông thoáng, cửa đi thông thoáng, cửa sổ thông thoáng. Để tạo thành một bố cục hoàn chỉnh về nghệ thuật viên lâm, người ta thường dùng kiến trúc to nhỏ khác nhau, có vị trí, hình khối và tỉ lệ khác nhau, có các phòng được nối liền bằng các hiên, được tô điểm đẹp đẽ bằng núi và mặt nước.
Kiến trúc viên lâm bao gồm các loại sau đây: sảnh đường, lầu gác, tạ, hành lang, thuyền đá, đình, đài và tường có cửa tròn.
Các hoa viên của Trung Quốc có xuất xứ lâu đòi từ trong lịch sử như Đại quan viên ở trong tác phẩm bất hủ Hồng Lâu Mộng. Viên Minh Viên ớ Bắc Kinh trước đây từng là viên ngọc quý của kiến trúc Hoa viên Trung Quốc
Nhiều hoa viên nổi tiếng nhất trong lịch sử kiến trúc Trung Quốc tập trung ở Tô Châu. Các hoa viên tư nhân ở Tô Châu có lịch sử lâu đời từ thế kỷ thứ VI trước Công nguyên và đến cuối đời Nhà Thanh, Tô Châu có tới hơn 170 hoa viên. Ở Tỏ Châu hiện nay còn hơn 10 hoa viên lớn nổi tiếng, ví dụ Võng Sư Viên có từ thế kỷ XII, đến thế kỷ XVIII được trùng tu, phần phía Đông là kiến trúc, phần phía Tây là vườn, phần giữa là mặt hồ “Bích thuỷ”, ven theo mật nước có hành lang, hiên, đình…
Trong Lưu viên ở Tô Châu có Bích Sơn phòng, phía trước cũng có hồ nước trong, là nơi đẹp nhất để “thưởng ngoạn sen nở và ngắm trăng”. Lưu viên được xây dựng vào những năm 1522 – 1566 thuộc triều vua Gia Tĩnh đời Nhà Minh. Ở đây, mây trời, kiến trúc lớn nhỏ, hiên, tạ, đình, lầu, cây cối và hoa cỏ, đá và mặt nước hoà quyện vào nhau; có ngọn đá tự nhiên tên là Quán Vân Phong rất nổi tiếng, cao 6,5m, nặng 5 tấn, là khối đá cao tự nhiên được con người dựng lên – nổi tiếng trong các lâm viên ở Tô Châu.
Ở Tô Châu còn có Trác Chính Viên, xây dựng vào thời kỳ Chính Đức Nhà Minh (1506 – 1521), là một kiệt tác viên lâm khác, được phong danh hiệu “Giang Nam danh viên Tinh hoa” (Best of the Famous Gardens in Southeast China).
Tới nay, nghệ thuật Hoa viên của Trung Quốc có nhiều tác phẩm được công nhận là di sản Văn hóa thế giới, chúng thường có vẻ đẹp thơ mộng như thơ Đường vậy.
Ở Thừa Đức, Hà Bắc có Tị Thử Sơn trang (Sơn trang tránh nóng), còn có tên là Thừa Đức Ly cung) là tác phẩm kiến trúc viên lãm hết sức đẹp đẽ và hoành tráng, được xây dựng trong suốt thế kỷ XVIII (1703 – 1792), trải qua 3 đời vua Khang Hy, Ung Chính và Càn Long.

• Kiến trúc nhà ở dán gian Trung Quốc
Đất nước Trung Hoa rộng lớn, lịch sử lâu đời nên tính chất của kiến trúc dân gian là tuỳ từng nơi mà rất khác nhau. Sự khác biệt về hình thức kiến trúc nhà ở dân gian rất nổi bật do khí hậu và phong tục tập quán giữa các vùng rất khác nhau. Những nghiên cứu đầy đú nhất về nhà ở dân gian Trung Quốc thường bắt đầu từ những tìm tòi nghiên cứu về thẩm mỹ học Nhà ở với các tính chất như: mật độ thưa và dày thích đáng, phần đặc và phần rỗng thích đáng, bên ngoài chặt chẽ, bên trong yên tĩnh, trong và ngoài liên kết chặt chẽ với nhau, vừa đạm bạc vừa trang nhã, sự sông động lưu chuyển của khí, mang vần luật của âm nhạc và đậm chất thi hoạ. Trong vô số những đối tượng cần nghiên cứu vể kiến trúc nhà ớ nổi bật lên các đối tượng kiến trúc nhà ở dân gian sau đây với tư cách là những kiến trúc nhà ở tiêu biểu:
– Nhà ở dân gian Sơn Tây.
– Nhà ở dân gian vùng An Huy (Huy Phái, Hui – Style).
– Nhà ớ dân gian dân tộc Tạng.
– Nhà ở dân gian vùng Lĩnh Nam.
Mỗi vùng của Trung Quốc, kiến trúc nhà ở đều có những đặc điểm rất đặc sắc nhưng trong di sản kiến trúc nhà ở Trung Quốc còn có một số loại nhà mà những người nghiên cứu kiến trúc cần quân tâm như nhà ớ Tứ hợp viện ớ Bắc Kinh và nhà tròn bằng đất ớ Phúc Kiến.
Kiểu nhà Tứ hợp viện ở Bắc Kinh là những biểu hiện rõ rệt những quan niệm về tôn pháp và chế độ gia đình thời phong kiến, có bố cục ngăn nắp, nhấn mạnh trực đối xứng, có nhiều sân giữa, âm dương hòa hợp, tòa nhà ở chính giữa là nơi quan trọng nhất, là nơi tiến hành các nghi lễ gia đình và đón tiếp khách quý. Hoa lá ở các sân trong tạo cho nơi này trở thành nơi sinh hoạt ngoài trời lý tưởng. Ngoài Bắc Kinh, vùng Hoa Bắc và Đông Bắc Trung Quốc cũng tồn tại các loại nhà kiểu này.
Nhà tròn ở Phúc Kiến, còn gọi là Thổ Lâu, có các ví dụ nổi tiếng nhất là ở vùng Mân Tây, với các huyện Vĩnh Định, Nam Tịnh, Hòa Bình, Chiêu An, xây dựng thành các quần thể ở tập trung rất độc đáo. Ban đầu, kỹ thuật xây dựng Thổ lâu chịu ánh hướng của cách xây dựng phương Bắc, đến đời Nhà Đường (618 – 907), kỹ thuật này được ứng dụng ở Phúc Kiến. Vật liệu xây dựng là đất sét, cát đá, mảnh gổ, thậm chí có cả bí quyết riêng khi dùng thêm trứng gà, gạo nếp. Nhà rất vững chắc và tồn tại qua nhiều thế kỷ. Mỗi nhà là một thành quách có tính phòng ngự cao, ngoài hình tròn còn có biến thế hình bầu dục, hình vuông, ví dụ Thổ lâu Điền La Khang, xây dựng năm 1796, là một cấu trúc quần thể ớ rất đẹp.
Vì kiến trúc nhà ở dân gian Trung Quốc rất đa dạng cho nên khi nghiên cứu chúng ta có rất nhiều cách tiếp cận: đó là cách tiếp cận về phân loại mặt bằng, đó là cách tiếp cận về kết cấu và các chi tiết, đó là cách tiếp cận đối với hình thức quần cư và bộ mặt thôn trấn, thêm nữa là cách tiếp cận về ngôn ngữ nghệ thuật và ý đồ thẩm mĩ.
Nghệ thuật kiến trúc nhà ở dân gian Trung Quốc với sự phong phú và đa dạng của nó có thể dùng 4 chữ “Nhân địa chế nghi” để giải thích.