Các loại hình kiến trúc truyền thống Trung Quốc và các tác phẩm tiêu biểu (P3)

Kiến trúc tôn giáo

Kiến trúc tôn giáo Trung Quốc bao gồm các đối tượng nghiên cứu sau đây: Phật tự (chùa chiền), Phật tháp (là tháp), kiến trúc Phật giáo đục ngầm trong đá, đạo quan, đền thanh trấn.
– Chùa chiền
Trung Quốc là một đất nước đa tôn giáo, ngoài việc theo Phật giáo là chính còn có Đạo giáo và Hồi giáo cùng với một số tôn giáo tín ngưỡng khác, cho nên ngoài chùa chiền Phật giáo ra (chùa chiền trong tiếng Trung Hoa gọi là Tự viện) thì còn có một số loại kiến trúc của các tôn giáo khác mang tên gọi khác nhau, như Cung quan là đền thờ của Đạo giáo, như đền Lạt ma là đền thờ Phật giáo của Tây Tạng, đền Thanh chấn là đền thờ của Hồi giáo. Nhưng đền thờ của Phật giáo bao giờ cũng chiếm vai trò quan trọng nhất, tương truyền từ đời Hán Minh đế, kinh Phật đã đến từ Tây vực. Vì vậy dã có ngôi chùa Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc gọi là Bạch Mã Tự. Chùa Bạch Mã Tự Lạc Dương được xây dựng từ đời nhà Hán.
Từ đời Đường ở Ngũ Đài Sơn, tỉnh Sơn Tây đã xây dựng một trong những trung tâm quan trọng nhất của Phật giáo với rất nhiều chùa chiền, đại diện của chùa Phật Quang là toà kiến trúc có kết cấu gỗ lớn nhất của Trung Quốc còn lại cho đến ngày nay là từ đời Đường, ở đó Phật toạ và Phật tượng đều là nguyên bản gốc, Tấn Từ ớ Thái Nguyên đời Xuân Thu là do Tấn Hầu xây dựng, trong điện Thánh mẫu còn lại 43 pho tượng, trong đó có 41 pho tượng được tạc từ đời Tống. Trong đó đặc biệt có 33 tượng khắc hoạ phụ nữ rất sinh động là những kiệt tác của điêu khắc Trung Quốc truyền thống.
Trong những ngôi chùa nổi tiếng đời nhà Tuỳ có chùa Long Hưng ở Hà Bắc (tên gốc là chùa Long Tạng), nhưng qua thời gian cho đến nay lại mang phong cách của đời Tống. Trong quần thể chùa này toà kiến trúc cao to nhất là Phật Hương Các (còn gọi là chùa Đại Bi), bên trong chiểu cao thông thuỷ tới 24m.
Cung Butala, ở Lasa Tây Tạng là cung điện hành chính và nơi ờ của Đạt Lai Lạt ma, đó cũng là toà Tự viện của Đạt ma giáo kiểu Tây Tạng. Quần thể này rất to lớn, hoành tráng bao gồm nhiều cung điện, đền thờ, trường học, nhà ớ của Đạt lai Lạt ma. Kiến trúc dựa vào thế núi, nhìn ra cao nguyên phong cảnh hùng vĩ mà sáng sủa. Đặc biệt, với kiến trúc chủ thế’ là Hồng Cung, ở phía bên trên có 3 toà kim điện và 5 toà kim tháp khi ánh nắng chiếu vào rất nguy nga tráng lệ.
Quần thế chùa chiền ở Thừa Đức – Hà Bắc là một trong những quần thể đền chùa lem nhất Trung Quốc do tầng lớp trên của dàn tộc Mông, Tạng xây dựng, nên có những bộ phận giống như cung điện ớ Lasa, diện tích chiếm đất 22ha, xây dựng trong 4 nãm, trên tổng bình đồ chia ra ba bộ phận: trước, giữa và sau. Ớ bộ phận sau cùng sát vách núi cao có Đại Hổng Đài chiểu cao tới 25m và chiều ngang tới 60m, trông rất hùng vĩ.
Bố cục chùa chiền ở Trung Quốc theo quan niệm Âm – Dương rất sâu sắc, với luận điểm Mỹ học chủ trương đối xícng, trật tự và ổn định, ngoài ra cũng có một số chùa chiền bố cục tự do, theo kiểu kiến trúc hoa viên, tao nhã và đượm vẻ trữ tình.
– Tháp Phật
Tháp Phật là một công trình kiến trúc mang tính chất hỗn dung giữa tác phẩm kiến trúc và tác phẩm điêu khắc. Tháp Phật có tạo hình tinh tế thường được trang trí bằng vàng bạc hoặc mã não, bên trong để xá lị phật cốt, tháp Phật còn có một tên gọi khác là Bảo tháp.
Tháp Phật thuở ban đầu là biểu hiện của sự du nhập văn hoá và nghệ thuật nước ngoài. Từ đời xưa Trung Quốc đã có câu “Cứu nhân nhất mạng, thắng tạo thất cấp phù Đồ”. Phù Đồ ở đây là tháp trong Phật giáo, còn thất cấp là bảy tầng. Chữ Phù Đồ lấy từ ngôn ngữ tôn giáo Ân Độ là Stupa.
Tháp Phật lúc đầu là kiến trúc kỉ niệm để chôn cất Phật cốt. Trong lịch sử Trung Quốc, tháp Phật được chia ra làm 5 loại: một là tháp kiểu lầu các, hai là tháp kiểu có mái đua dày, ba là tháp kiểu đơn tầng, bốn là tháp Lạt Ma và nãm là tháp Kim cương bảo toạ. Khi Stupa vào Trung Quốc trải qua một thời gian dài biến thành lầu gác, thì đã trở nên một sản phẩm nghệ thuật rất riêng mang một bản sắc Trung Quốc. Tháp kiểu lầu gác thường chiếm vị trí trung tâm trong tổng thể chùa chiền.
Ta có thể kể ra một số ví dụ về những toà tháp nổi tiếng trong lịch sử kiến trúc Trung Quốc như tháp Thích ca ở Phật Cung Tự, ở úng Huyện, Sơn Tây cao năm tầng hay toà Kim cương Bảo toạ tháp ở Chính Giác Tự Bắc Kinh.
– Kiến trúc đục ngầm trong đá, Đạo quan và Thanh Trấn Tự
Kiến trúc đục ngầm trong đá hay thạch động có nguồn gốc từ Ân Độ. Trong các thành động có nhiều phòng tu nhỏ. Đó là một loại chùa bằng đá rất bền vững, rất khó bị phá hoại cho nên tồn tại rất lâu. Theo thời gian người ta chia ra làm 3 loại thạch động: loại thứ nhất là loại có hình ôvan, trên đỉnh có vòm cong; loại thứ hai là loại mật bằng hình vuông, nếu quy mô lớn có hai phòng trước và sau, có rất nhiều trang trí và điêu khắc; loại thứ ba là loại phía trước có một tiền phòng có những hàng cột đỡ hoặc hai cột đỡ.
Đạo quan là một loại kiến trúc tôn giáo truyền thống của bản địa Trung Hoa ra đời từ thời Đông Hán (khoảng 128 – 144 sau Công nguyên). Đạo giáo tin thờ Lão Tử, có nguồn gốc xuất xứ từ “Đạo đức kinh” của Lão Tử, đề xướng âm dương ngũ hành, trị luyện đan dược v.v… và có ảnh hưởng rất lớn đối với nền văn hoá Trung Quốc. Người Trung Quốc xây dựng Đạo quan có phần hơi khác với kiến trúc Phật giáo, chẳng hạn như cho rằng các bậc tiên nhân thích sống ở trên lầu gác để gần Thiên cung. Nơi tế thần của Đạo giáo gọi Quan, chính là loại lầu gác nói trên. Người Trung Quốc xưa kia nói: “Quan giả, Quan dã, Dư thượng quan vọng dã” ý nói ở trên lầu gác dễ xem sao và xem khí. Ví dụ điển hình của loại kiến trúc này là Thanh Cung trên núi Thanh Thành ở Tứ Xuyên.
Đền Thanh Chấn được xây dựng ở Trung Quốc sau thế kỉ XX và thế kỉ XXI là lúc Hồi giáo du nhập vào Trung Quốc qua Tân Cương, những người thợ xây của Trung Quốc đã làm biến đổi nguyên dạng của đền thờ Hồi giáo Ân Độ, ví dụ ngôi đền Thanh Chấn kiêm luôn mộ táng ở Tân Cương, đã mô phỏng những đền thờ Hồi giáo ở đó, làm cho lăng mộ trở thành những nơi vui tươi mà không ảm đạm.