Các loại hình kiến trúc truyền thống Trung Quốc và các tác phẩm tiêu biểu (P2)

Kiến trúc cung đình
Kiến trúc cung đình gồm 3 loại hình kiến trúc chính đó là: cung điện, đàn miếu và lăng mộ.
– Cung điện
Từ ngàn xa hoàng thành và cung thành luôn luôn là đối tượng đặc biệt quan tâm so với mọi hoạt động kiến trúc khác. Các nhà vua ra sức xây dựng cung điện cho mình, có thể là xây trên nền của những cung điện cũ, có thể là xây mới hoàn toàn, nhưng luôn luôn phải cơ bản như: tính quần thể phải cao, kiến trúc phải lộng lẫy, khí phách và phải tuân theo nhũng quy định tổ chức ngặt nghèo.
Ví dụ như: Đại Minh cung đời Nhà Đường bắt đầu xây dựng vào năm 634 ở phía Đông Bắc thành Tràng An, được xây trên một khu vực cao ráo, cao hơn hắn so với các khu dàn cư và có thể nhìn xuống toàn thành phố.
Điện Càn Nguyên là toà điện chính của Đại Minh cung, đặt ở vị trí quan trọng nhất của “đầu rồng” trong khu nói trên, cao hơn đất thường tới 10m. Toà điện có 11 gian, rộng tới 75m. Kiến trúc cung diện Trung Quốc thường đối xứng một cách nghiêm ngặt, nhấn mạnh trục dọc. Kiến trúc trên trục chính này thường hoành tráng, lộng lẫy hơn kiến trúc ở hai bên, theo kiểu “tiền triều hậu tẩm”, đế thể hiện sự “tối cao vô thượng” cùa quyền lực nhà vua.
Nhưng khi nói đến việc xây dựng Hoàng cung, điều gần như chúng ta phải nói đến đầu tiên là hoạt động xây dựng Cố cung hay Tử cấm thành ở Bắc Kinh. Quần thể cung điện này khởi công xây dựng năm 1407 và cơ bản hoàn thành vào 1420, kích thước Bắc – Nam 960m và Đông – Tây 760m, bên ngoài có tường thành và hào nước bao quanh, bên trong có nhiều công trình mở ra những lớp không gian biến hoá rất phong phú.
Từ Thiên An Môn ta vào Ngọ Môn và Thái Hoà Môn, tiếp theo là nhóm công trình chính mang tên Ngoại triều, gồm Thái Hoà điện, Trung Hoà điện và Báo Hoà điện, tiếp theo là Càn Thanh cung, Càn Thanh điện và Giao Thái diện; cuối cùng ta đến Thân Minh cung, Khâm An điện, Thần Vũ môn và Bắc Thượng môn.
Trục chính của quần thể Cố cung chính là trục chính của thành phố Bắc Kinh, do đó kiến trúc có bố cục đối xứng mà tính quy tắc cao. Hiệu quả thẩm mĩ của Tử Cấm Thành được tạo thành bởi tính quần thể cao và sự tương phản và các đơn thể kiến trúc cao thấp khác nhau và nghệ thuật xử lí chi tiết và màu sắc. Kiến trúc được lợp bằng ngói lưu li vàng, tường cột sơn màu đỏ thầm, chân cột được làm bằng đá bạch ngọc, tất cả nổi bật lên trong cảnh quan của thành phố màu xanh xám.
Cố cung Thẩm Dương và một số di tích cung điện ở Tây An cũng là một sô’ ví dụ hiện íồn của kiến trúc cung đình Trung Quốc.
Muốn nghiên cứu kiến trúc cung điện hay kiến trúc chùa chiền Trung Quốc, ta phái nghiên cứu các thành phần kết cấu chủ yếu của một toà kiến trúc, từ dưới lên trên bao gồm các thành phần sau đây:
– Phần bệ nhà là một bản phẳng gồm những bản đá đặt lên những cột đá góc và cột đá giữa, ở nhịp giữa của phẩn này có bậc lên.
– Phần thân nhà gồm có những cột chịu lực (cột góc và cột trung tâm ở nhịp giữa), dưới các cột có chân cột loe ra, các đầu cột được nối với nhau bằng lanhtô gỗ, trên đầu cột có một bộ phận đỡ mái gọi là đấu củng, có thể có đấu củng góc nhà hoặc ở trên các cột giữa.
– Phần trên cùng của nhà là phần mái gồm bờ nóc, bờ nghiêng, mái đua và đỉnh mái, diện mái.
Theo phân loại của Nhà học giả kiến trúc kiệt xuất Lương Tư Thành, thì diện mạo bên ngoài của các toà điện Trung Quốc có các kết cấu gỗ được chia làm 3 thời kỳ phát triển:
a) Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ phát triển (từ khoảng năm 600 đến năm 1050) là thời kỳ Đường, Liêu và Tống.
b) Thời kỳ thứ hai là thời kỳ chín muồi hay thời kỳnh lịch duyệt (có niên đại vào khoảng năm 1000 và 1400), trải dài từ cuối Bắc Tống đến Kim Nguyên.
c) Thời kỳ thứ ba là thời kỳ khẳng định (khoảng 1400 đến 1900), là thời kỳ của Nhà Minh và Nhà Thanh.
+ Đàn miếu
Đàn Miếu là kiến trúc dùng đê tế lễ, có thể chia ra làm 3 loại: loại thứ nhất là do nhà vua sử dụng, bao gồm: đàn tế trời là thiên đàn, đàn tế thần thổ địa là đàn xã tắc và đàn tế tổ tiên là Thái miếu. Đàn tế trời là loại đàn quan trọng nhất, mà ví dụ còn lại tiêu biểu nhất cho đến ngày nay là thiên đàn ở Bắc Kinh, mặt bằng bức tường phía Bắc ở thiên đàn Bắc Kinh có dạng hình tròn, ở bức tường phía Nam có dạng hình vuông, tượng trưng cho khái niệm “trời tròn đất vuông”.
Về đàn xã tắc trong một bài về kinh cổ của Trung Quốc có viết “xã” là chủ của thổ địa, vì vậy “thổ địa khoái bất khả tận kính” cho nên “phong thổ vi xã” và phải lập đàn xã tắc để cúng tế là như vậy.
Thái miếu là nơi thờ tổ tông của Hoàng gia. Đời Minh xây dựng Thái miếu là do tuân theo lời giáo huấn truyền lại “tả tổ hữu xã” ở về phía Đông của Thiên An Môn hiện nay. Đời Minh cũng tiếp tục như vậy và Thái miếu ngày xưa hiện nay là ở khu vực Cung văn hoá nhân dân lao động Bắc Kinh.
Loại đàn miếu thứ hai phổ biến ở Trung Quốc là Khổng miếu, do tư tướng Nho gia trong xã hội Trung Quốc chiếm địa vị thống trị. Cho nên Khổng Tử là đại biểu tiêu biểu của hàng vạn bậc trí giả. Hiện nay có hai nơi thờ Khổng Tử lớn nhất là Khổng miếu – tức Văn miếu Bấc Kinh và Khổng miếu Khúc Phụ.
Ở Trung Quốc còn có loại tế lễ nữa là tế lễ các bậc thánh hiền, là nơi tế lễ những người có công đức trong lịch sử; còn trong những gia đình phong kiến quý tộc thì có đền thờ gia tộc còn gọi là từ đường.
+ Làng mộ
Từ thời Cổ đại, người Trung Quốc đã cho rằng sau khi chết sẽ có một cuộc sống ớ một thế giới khác và linh hồn sẽ không chết. Thế giới quan đó được phản ánh vào việc xây dựng lăng mộ; chính vì vậy các vị Hoàng đế Trung Hoa xây dựng lăng mộ to lớn xa hoa như cung điện và nhà ở vậy.
Thành phần của lăng mộ gồm phần ở dưới đất là mộ phần và phần ở trên mặt đất là kiến trúc tế lễ.
Những ví dụ tiêu biểu là những quần thể lăng mộ lớn có thể kể ra là:
– Lăng mộ của Đường Cao Tông hợp táng với hoàng hậu Võ Tắc Thiên được xây dựng nãm 650 đến năm 683, quần thể này xây dựng trên núi Bắc Lương Sơn ớ Thiểm Tây.
– Mộ công chúa Đường Vĩnh Thái, được xây dựng cách mộ Đường Cao Tông 2,5km, có cạnh đáy 55m, cao 11,3m, có hình thức phần trên mặt đất giống như hai nửa quả trứng, phần dưới mặt đất gần đường đi và mộ phần dài tới 87,5m.
Việc xây dựng lăng mộ vua chúa đời Minh – Thanh được bắt đầu bằng xây lăng Chu Nguyên Chương. Lăng mộ Chu Nguyên Chương được xây dựng kết hợp với một ngọn núi rất tài tình, sự kết hợp với tự nhiên một cách khéo léo giống như một giang sơn cẩm tú nhỏ.
Đời Minh việc xây dựng Thập tam lãng có phần khác xa so với việc xây dựng lăng mộ đời Đường Tống, các mộ đều được đào ngầm xây xuống dưới đất, bên trên đắp những núi đất bằng hoàng thổ gọi là “bảo đỉnh”. Cả mười ba toà lăng mộ đều có một lối vào chung, đều có một đường thần đạo chung, đều có nghĩa là có một quy hoạch chung, điều mà xưa kia chưa từng có.
Đến đời nhà Thanh về cách thức chôn cất cũng gần giống như thời Nhà Minh nhưng cách phân chia tầng bậc từ hoàng đế, hoàng hậu cho đến thân vương, công chúa đều tuân theo những quy mỏ khác nhau. Một trong những ví dụ tiêu biểu của lăng mộ đời nhà Thanh là quần thể Đông Thanh Lăng ở gần Thiên Tân.