Các loại hình kiến trúc truyền thống Trung Quốc và các tác phẩm tiêu biểu (P1)

Nền kiến trúc Trung Quốc có một truyền thống lâu đời. Nhưng vì vật liệu ưu tiên của nền kiến trúc Trung Quốc là gỗ và vật liệu này tuy có tính mềm dẻo cao, độ bển lớn nhưng vẫn có một nhược điểm là dễ bị mục và dễ bị cháy; cho nên loại vật liệu này rất khó tồn tại theo thời gian, nên thông thường những công trình gỗ còn tồn tại ngày nay là có niên đại từ đời nhà Minh (thế kỉ XIV trở đi). Tuy vậy nền kiến trúc có bản sắc dân tộc hàng ngàn năm của Trung Quốc theo thời gian vẫn giữ được tính truyền thống và khi xây dựng hết thể kỉ này sang thế kỉ khác luôn luôn tuân theo một chế định nhất định, cho nên tính truyền thống và tính bảo tồn rất cao. Ngoài vật liệu gỗ, việc xây dựng bằng công tác nề cũng đã được sử dụng mạnh mẽ, trong một số thể loại công trình có cửa tò vò và mái vòm, công trình cầu và một số công trình kĩ thuật khác.
Có thể nói trong một ngôi nhà của kiến trúc Trung Quốc, trong một đô thị với các thành phần của kiến trúc Trung Quốc, cho đến đầu thế kỉ XX, tính chất đổng dạng và sự tiêu chuẩn hoá đã được áp dụng một cách mạnh mẽ.
Từ thế kỉ IV đến thế kỉ VI sau Công nguyên, những hình thức của kiến trúc truyền thống Trung Quốc đã được định hình, đó là mái đua, mái cong, các cụm đấu củng và những cây cột chịu lực. Quy hoạch đất đai tư hữu đã hình thành từ đời Hán và được tiếp tục bảo tồn qua hàng ngàn năm. Nhà ở điển hình của Trung Quốc theo kiểu tứ hợp viện với những chiếc sân trong nhỏ được định hình từ rất xa xưa.
Trung Quốc là một quốc gia lâu đời, nhưng tính chất kiến trúc của nó rất đa dạng, nó không giống Ân Độ có Hindu giáo và châu Au có Thiên chúa giáo thống lĩnh, nên nó không bị chi phối một cách tuyệt đối, một cách bao chùm bởi một thuyết thần học nào cả. Nhà lịch sử kiến trúc Louis I. Rocah cho rằng: “Đạo Khổng là một học thuyết thiên về chính trị xã hội, đạo Lão mang đậm tính triết học hơn là tôn giáo. Đạo Phật du nhập vào Trung Quốc từ An Độ vào thế kỉ đầu tiên sau Công nguyên nhưng các toà nhà của đạo Phật lại hay được xây dựng theo truyền thống lâu đời của Trung Quốc là có tường thành bao quanh và mang phong cách lâu đài”.
Tuy nhiên, Louis I. Rocah lại đánh giá cao kiến trúc của đạo Phật Trung Quốc, ví dụ như: cổng tưởng niệm (cổng tưởng niệm bằng đá có năm cửa) còn gọi là Thạch Bài Lầu của quần thể lăng mộ đời Nhà Minh Trung Quốc (1522 – 1566), miếu đá và điện thờ thuộc động đá thờ hàng nghìn đức Phật tại Cam Túc (266 sau Công nguyên đến thế kỷ thứ XI), tháp Tống Nguyệt ở Hồ Nam (523 sau Công nguyên) và tháp Đại Nhạn ở Tây An.
Tất nhiên ta còn phải tiếp tục nói đến Vạn Lý Trường Thành do Tần Thuỷ Hoàng và nhiều đời sau đó xây dựng dài tới 828km cũng như nói đến thành Bắc Kinh với Tử Cấm Thành.
Xem xét nền kiến trúc truyền thống Trung Quốc, ta phải lần lượt nghiên cứu các đối tượng sau đây:
+ Đô thị;
+ Cung điện và các loại hình kiến trúc Hoàng gia khác, trong đó có lãng tẩm của các nhà vua Trung Quốc;
+ Chùa chiền hay kiến trúc tôn giáo;
+ Nghệ thuật viên lâm;
+ Kiến trúc nhà ở dân gian Trung Quốc.
• Đô thị
Đô thị Trung Quốc là nơi thế hiện rõ nhất trên thế giới, khái niệm cấu thành đô thị bao gồm hai thành phần là “thành” và “thị”. Đô thị Trung Quốc cổ đại có hình thái đô thị rất quy tắc, bố cục nghiêm chỉnh, phân chia đảng cấp rõ ràng, quy hoạch toàn diện, hình thức hình học sáng tỏ. Ví dụ điển hình nhất là quy hoạch thành Chu Vương, theo như trong ghi chép của “Chu Lễ Khảo Công Kỷ”, đã ghi rõ tư tướng quy hoạch đô thị, đã quy định rõ thành phố cao, ngang, rộng, hẹp như thế nào. Một số quy định khác cũng được đặt ra đối với đô thị của các nước chư hầu. Tất cả những điều đó phản ánh nhu cầu vật chất và tinh thần của giai tầng thống trị, về sau này còn được các triều đại phong kiến tiếp tục sử dụng.
Các hình thức định cư ở đô thị Trung Quốc cổ đại đã có từ hàng ngàn năm trước Công nguyên. Đời Tần Hán, trong các thành phô’ có những khu ớ rộng đến gần 20ha; thời Tam Quốc, Tào Nguy Tấn các đơn vị ở được gọi là “lí” rộng tới 30ha.
Thành Tràng An đời Đường có dân số lên đến một triệu người, diện tích đất thành phố 80km2, chia thành các đơn vị hành chính gọi là phường.
Quá trình phát triển thành Bắc Kinh từ thời Tiền Chu Văn 226 sau Công nguyên đến đời Minh Thanh tổng cộng chia làm 6 giai đoạn phát triển đã phản ánh rõ nét truyền thống xây dựng đô thị Trung Quốc, đó là việc dùng tường quây các thành phố lại, việc nhấn mạnh trục giữa và trật tự luân lí, việc phân chia các khu vực, việc xác định biên giới rõ ràng, việc dùng các màu sắc cho các thành phần khác nhau.
Đô thị Cổ đại Trung Quốc có tư tưởng xây dựng chịu ảnh hưởng của quan hệ dẳng cấp và thể chế phong kiến rất nghiêm ngặt từ quy hoạch chung về đường phố cho đến quy hoạch riêng về hướng của từng nhà đều quy định rất nghiêm khắc.
Lần theo lịch sử cổ đại và Trung đại Trung Quốc ta thấy có các ví dụ đô thị sau đây được xem như là tiêu biểu:
1. Nghiệp Thành đời Tào Ngụy (nay là An Dương ở Hà Nam).
2. Thành Kiến Khang đời Nam Triều (nay là Nam Kinh, Giang Tô).
3. Thành Tràng An đời Tuỳ, Đường (nay là Tây An, Thiểm Tây).
4. Thành Kha Lương đời Bắc Tống (nay là Khai Phong, Hà Nam).
5. Nguyên Đại Đô (nay là thành Bắc Kinh).
6. Thành Bắc Kinh đời Minh – Thanh.
Như trên đã nói, trong thành phố, ngoài cung thành và ngoại triều tông miếu thì còn có “thị” là chợ và “lí” là đơn vị ở.