Để thảo luận về kiến trúc hiện đại ở châu Á, chúng ta trước hết cần chú ý vào kiến trúc thế giới của giai đoạn trước, ở đây chúng tôi gọi là “thời kỳ đầu của chủ nghĩa Hiện đại” (cả Trung Quốc và Nhật Bản đều có thuật ngữ để đề cập tới giai đoạn đặc biệt này để chỉ một oách sơ lược về thời kỳ từ cuối thế kỷ XVI sang giữa thế kỷ XIX. Tuy nhiên ở đây chúng ta chỉ đơn giản gọi là “thời kỳ đầu hiện đại”). Để có thể hình dung giai đoạn này về mặt địa lý, chúng tôi có thể đưa ra 5 phạm vi lán về nền văn minh kiến trúc cùng tồn tại ở •thế kỷ XVIII. Điều này cũng sẽ giúp sắp xếp kiến trúc châu Á trên bản đồ kiến trúc thế giới và trong cùng một lúc cân đối với cái gọi là vị trí độc tôn của kiến trúc phương Tây trong các tài liệu về kiến trúc hiện đại cả trong và ngoài châu Á. 5 phạm vi lớn đó là:
– Ehạm vi kiến trúc Tsung Quốc.
– Phạm vi kiến trúc Ấn Độ.
– Phạm vi kiến trúc Ba Tư.
– Phạm vi kiến trúc Đông Địa Trung Hải (hay còn gọi là Thổ Nhĩ Kỳ).
– Phạm vi kiến trúc châu Âu.
Cái mà chúng tôi gọi là phạm vi kiến trúc ở đây chỉ là một đơn vị mang tính chất địa lí gồm cả vùng hạt nhân và các khu vực xung quanh có cùng hệ thống giá trị, hiểu biết và công nghệ kiến trúc. Cần nhớ rằng trong khi các phạm vi này tồn tại độc lập ngay cả sau sự tan vỡ của đế chế toàn cầu Mông cổ, vẫn gìn giữ các di sản kiến trúc cổ đặc biệt rõ ràng mang đậm bản chất của chúng nhưng lại không hoàn toàn tách biệt với nhau. Thực tế thế giới thời kỳ đầu hiện đại được đặc trưng bằng những luồng di chuyển tích cực của con người và vật liệu cũng như các yếu tố phi vật liệu như triết lý kiến trúc, nguyên tắc quy hoạch đô thị trong cả 4 phạm vi không thuộc phạm vi châu Âu. Những luồng di chuyên này được hỗ trợ một cách thuận lợi với các hoạt động mạnh mẽ của các thương gia Trung Quốc, An Độ, và Hồi giáo. Các thương gia này di chuyển một cách tự do trên biển và tạo ra những khu định cư đô thị ở bất cứ nơi nào mà họ tới. Hệ thống mạng lưới thương mại với sự hỗ trợ của đường hàng hải ngoài vòng kiểm soát của các nhà chức trách trung ương đã tồn tại nhiều nãm trước khi xuất hiện cái gọi là ký nguyên thám hiểm. Nó bao gồm toàn bộ khu vực mà hiện nay chúng ta gọi là châu Á với Nhật Bản ở cực Đông và Thổ Nhĩ Kỳ ở cực Tây. Các nhà thám hiểm từ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan và Anh đơn giản tham gia vũ đài này một cách hoà bình, đôi khi cũng có những trao đổi không hoà bình lắm, tất nhiên mỗi khi nhập cuộc, người châu Âu đóng góp rất nhiều tới các phát triển tiếp theo của kiến trúc thuộc phạm vi phi châu Âu. Sự thể hiện này của họ có thể tìm thấy rất nhiều ở các nơi như Macao, Philipin, và Indonesia cũng như phần còn lại của Đông Nam Á. Tuy nhiên, với mổi đóng góp của phương Tây vào đầu thời kỳ hiện đại của châu Á chúng ta không nên nhìn và coi đó là nguồn khởi đầu duy nhất cho quá trình hiện đại hoá tiếp nối sau đó.

Cái mà chúng ta gọi là kiến trúc truyền thống ở châu Á hoặc ớ bất cứ nơi nào, trong hầu hết các trường hợp, đều dựa trên các di sản kiến trúc của thời kỳ đấu hiện đại mà chúng ta đã phác hoạ ở trên. Hơn thế nữa, bản đồ thế giới ở thời kỳ đầu này cho phép chúng ta nhận ra làm thế nào sự phát triển kiến trúc của các thế kỷ sau lại xuất hiện từ quá trình trong đó các phạm vi và tiểu phạm vi thừa nhận và đồng hoá các ảnh hường bên ngoài với bên trong giữa các phạm vi với nhau. Điểu này chỉ rõ kiến trúc hiện đại của thế giới, đặc biệt của những khu vực phi châu Âu, không từ trên trời rơi xuống, đồng thời cũng nhắc nhở chúng ta cần tránh quan điểm đơn giản hoá vể các di sản kiến trúc và có xu hướng muốn thúc giục để tạo nên một truyền thống kiến trúc thuần tuý và phi thời gian (ví dụ như kiến trúc đặc châu Á, Nhiệt đới, Đông Á, Trung Quốc). Và quáng bá cho các ý tướng này trên thị trường thế giới.
Tái tổ chức của kiến trúc thế giới giai đoạn hiện đại và sự chuyển đổi hướng về “hiện đại” giai đoạn từ cuối thế kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ thứ XIX chứng kiến những sự thay đổi lớn trong kiến trúc của thế giới. Điều này xảy ra chủ yếu chịu tác động của lực lượng nhà binh chứ không phải từ các lợi thế về mặt kiến trúc mà các thế lực châu Âu nắm giữ trong thời kỳ này. Có thể nói rằng sự chuyển đổi hướng theo sự thống trị của châu Âu trước hết được tự thể hiện khi đế chế Thổ buộc phải ký hiệp định hoà bình vào năm 1689, sau sáu năm thất bại của họ ở Viên. Phải đương đầu với sự đe doạ thực như họ đã mường tượng ra, đế chế Thổ, Ba Tư và Trung Hoa cố gắng nâng cấp lực lượng của họ bàng việc du nhập các công nghệ quân sự của phương Tây (đặc biệt của Anh và Pháp). Kiến trúc phương Tây cũng được giới thiệu với các nước phương Đông vào lúc này vì nó tượng trưng cho sự hưng thịnh về kinh tế và lợi thế về kĩ thuật của phương Tây, chính cái gọi là “thời kỳ tulip” trong toà án của Thổ là một ví dụ sớm nhất.

Theo như vậy, các thay đổi toàn cầu vẫn thường được hiểu một cách quá đơn giản, như là quá trình diễn ra một chiều của thực dân hoá và ý nghĩa của nó được cảm nhận rõ ràng cho tới ngay cả thế kỷ XX, đó cũng là kết quả của những đáp ứng sau của kiến trúc ở khu vực châu Á Thái Bình Dương.
– Phạm vi kiến trúc Trung Hoa chấp nhận lần lượt mô hình của Anh, Nhật và Mỹ.
– Nhật Bản tách khỏi phạm vi kiến trúc Trung Hoa và chủ yếu chấp nhận mô hình của Anh.
– Khu vực Đông Dương chấp nhận mô hình của Pháp.
– Các khu vực khác của Đông Nam Á chủ yếu chấp nhận mô hình của Anh, trong khi đó ảnh hưởng của Hà Lan và Tây Ban Nha có thể thấy rất rõ ở Indonesia và Philipin.
– Phạm vi kiến trúc Ấn Độ đật dưới ảnh hưởng của kiến trúc Anh.
– Phạm vi kiến trúc Thổ chuyển theo định hướng kiến trúc của Pháp.
– Khu vực Thái Bình Dương, bao gồm cả Australia và New Zealand chấp nhậfl! mô hình của Anh.