Ngôn ngữ và văn học
Trước khi nói đến ngôn ngữ và văn học Ấn Độ, chúng ta nên khái quát đề cập đến Triết học Ân Độ. Trong triết học Ân Độ, triết học Hindun chiếm vị trí quan trọng, nó làm rõ ràng bản chất của thế giới tối thượng, với đề tài chính là Thượng đế và sự sáng tạo của Thượng đế, nó cũng nghiên cứu về con người và sự cứu rỗi của đấng tối cao. Thế giới tối thượng – theo Triết học Hindu, có ba phương diện chính là Sáng tạo (chính là thần Brahma); Bảo tồn (Vishnu) và Phá hoại (Maheswara).
Triết học Hindu có 6 trường phái chính thống, đểu quan trọng, nhưng Samkhya vào loại cần chú ý nhất, Samkhya giải thích những nỗi khổ của con người, quan tám đến những vấn để vật chất và tinh thần, chủ trương thoát khỏi những câu thức của vật chất và nhấn mạnh khái niệm phi thần linh.
Các trường phái Triết học Ấn Độ khác, phi chính thống, là Triết học duy vật, Triết học đạo Jaina, và Triết học Phật giáo (P. R. Rao). Phái Charavaka Darshana (Duy vật) cho rằng: con người nên “cứ ăn, cứ uống, cứ vui vẻ”, “sống thật tốt mới là sự thông thái thực sự” và “cuối cùng thì cát bụi lại trở về với cát bụi mà thôi”. Ân Độ là một đất nước đa ngôn ngữ, ngoài hai ngôn ngữ chính là Sanskrit và Prakrit. Ngôn ngữ Sanskrit ban đầu được sử dụng rất phổ biến, nhưng sau đó có sự chống đối giữa các tôn giáo, nên một số vùng ở Ân Độ đã dùng ngôn ngữ Prakrit, loại ngôn ngữ này là một thể hỗn họp giữa ngôn ngữ Sanskrit và các ngôn ngữ địa phương khác, nó bình dân và phổ cập hơn. Ngoài ra, trên toàn đất nước Ấn Độ, có hàng tràm thổ ngữ khác đều được cùng sử dụng, chẳng hạn như tiếng Urdu, khá được phổ biến khi đất nước Ân Độ có sự kết hợp giữa văn hoá Ân Độ và văn hoá Hồi giáo.
Từ thế kỷ XVIII trở đi, tiếng Anh dần dần chiếm địa vị quan trọng trong ngôn ngữ và văn hoá Ân Độ. Thực dân Anh đã để lại cho Ân Độ những dấu ấn đau buồn qua sự xâm lược của nó, nhưng về mặt hỗn dung văn hoá và văn học giữa phương Tây với Ấn Độ thì tiếng Anh lại được thừa nhận và có những ảnh hưởng sâu sắc đối với văn hoá xã hội Ấn Độ.
Đất nước Ấn Độ có một truyền thống thơ và truyện truyền miệng lâu dài. Nói đến truyền thống văn hoá và ngôn ngữ Ân Độ, ta không thể không nói đến hai bộ sử thi vĩ đại là Mahabharata và Ramayana.
Theo cố thủ tướng J. Nehru thì chưa có bộ sách nào và chưa ở đâu lại có một bộ sách có ảnh hưởng liên tục và tràn ngập đối với quần chúng như hai bộ sử thi trên, về bộ sử thi Mahabharata, Hegel cũng phải nhận định, trong văn học thế giới, đó là bộ sử thi “mẫu mực nhất”.
Bộ sử thi Mahabharata là một câu chuyện 110.000 câu thơ nói về một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, giành dật đất đai và cuộc chiến tranh bảo vệ lẽ Dharma, trong đó, nhằm làm nổi bật hình ảnh người anh hùng lý tướng qua những nhân vật nửa trần tục, nửa thần linh. Điều chủ yếu mà bản trường ca này muốn nói, qua rất nhiều huyền thoại ngụ ngôn, những ẩn dụ triết học, được tập trung vào một phần gọi là Chí tôn ca (Bài ca Thiên đường), phần này kêu gọi con người phải tiến tới ba con đường để được giải thoát là con đường của kiến thức, của hành động và của sùng tín. Đó chính là việc tuyên truyền cho cái cốt lõi của tư tường Hindu giáo.
Bộ sử thi Mahabharata này được chia thành 18 cuốn sách (parva), đó là một cuốn bách khoa thư khổng lồ, còn được gọi là cuốn kinh Veda thứ nãm. Cốt lõi của bộ sử thi này là việc nhấn mạnh cái Thiện, cái Chính đáng sẽ chiến thắng các lực lượng xấu xa, tuyên truyền cho những mối quan hệ đạo đức đích thực và nhấn mạnh việc coi trọng những con người lý tưởng.
Về bộ sử thi Ramayana, nguyên bản bộ sử thi này có một vạn hai ngàn câu thơ kép, nó được truyền bá rất rộng rãi trong dân chúng vì từ đầu thế kỷ thứ XIII đến nay nó đã được dịch từ tiếng Sanskrit sang tiếng Telugu.
Bộ sử thi này là một chuyên luận vĩ đại về tôn giáo và đạo đức. Nó còn là một cuốn cám nang vô giá về nghệ thuật lãnh đạo và quản lý. Còn một điểu thứ ba rất quan trọng nữa là nó đề cao (theo p. R. Rao): “Một chân lý quan trọng mang tầm vũ trụ là hạnh phúc của cá nhân không phải ở những của cải vật chất, mà ở chỗ có giữ gìn được nhàn cách đạo đức tốt và nâng cao được những giá trị tinh thần; đó cũng là chủ đề trung tâm của cuốn sử thi bất hủ”
Toàn bộ nền văn hoá Ấn Độ đã dược thâu tóm vào trong Ramayana, bộ sử thi này lần lượt để cập đến những nhân vật và những chủ đề sau đây: những nhân vật nguyên thuỷ, những nhân vật thuộc đẳng cấp cao, những bài học rút ra và những hành vi chính đáng, sự thiêng liêng trong đời sống hôn nhân, lòng biết ơn, tình anh em, người đàn ông lý tưởng, nhà cầm quyền lý tưởng và người phụ nữ lý tưởng.

Nghệ thuật Ấn Độ
Nếu quan niệm nghệ thuật là một sự phản ứng trước tự nhiên luôn luôn biến đổi thì nhìn vào trường hợp nghệ thuật Ân Độ, từ âm nhạc đến nghệ thuật tạo hình, ta thấy sự diễn tả tình cảm và sự thôi thúc sáng tạo của dân tộc này thật đáng kính trọng.
Nền nghệ thuật Ấn Độ, từ kiến trúc, đến điêu khắc, hội hoạ, tiểu hoạ, mỹ nghệ thủ công đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của tôn giáo.
Đặc điểm của tư tưởng Ấn Độ trong nghệ thuật là khát khao tự do, điều đó thể hiện trong những tác phẩm điêu khắc của đạo Hindu, trong kiến trúc của đạo Hồi và trong cả các tác phẩm mỹ thuật hiện đại và đương đại. Quan niệm và biểu hiện, thành tựu của các ngành nghệ thuật ở Ân Độ đã làm cả thế giới; đặc biệt là thế giới phương Tây rất kinh ngạc.
Mahatma Gandhi nói: “Tôi không muốn căn nhà của tôi bị xây tường bao quanh và các cửa sổ của tôi bị bịt kín, tôi muốn cho văn hoá của tất cả các nước thổi vào căn nhà của tôi càng tự do càng tốt”.
Sức mạnh của nền văn hoá Ấn Độ truyền thống và sự hỗn dung với văn hoá phương Tây, dù hài hoà hay va đập, đã đưa đến cho Ấn Độ hiện đại và đương đại những thành tựu mới về nghệ thuật mà cả thế giới đều kính nể.
Tóm lại, có rất nhiều lĩnh vực của tri thức Ân Độ đã được nghiên cứu từ rất xa xưa: chính trị học, y học, kinh tế học, chiêm tinh học, toán học, tâm lý học, v.v… nhưng mặt trái của văn hóa truyền thống cũng dẫn đến khái niệm “gánh nặng của quá khứ”. Vì vậy Tatwen Oashi đã phải nói đến sự hướng tới tương lai và nhấn mạnh: “Tôi là kẻ đang tồn tại”.