Tổng quan vể kiên trúc đương đại Nhật Bản – P1

kiến trúc Đương đại Nhật Bản là kết quả của sự sáng tạo nền kiến trúc truyền thống dân tộc một cách đúng mức cùng với sự tiếp thu kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài. Để có được thành tựu như ngày hôm nay, kiến trúc nhật bản cũng đã trải qua một thời dài để có thể tìm ra con đường riêng trong kiến trúc của mình. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nền kiến trúc Nhật Bản đã khẳng định được hướng đi đúng đắn mà họ lựa chọn bằng những thành tựu to lớn đã được thế giới công nhận.
Là một trong những kiến trúc sư thế hệ đầu tiên của kiến trúc đương đại Nhật Bản hay kiến trúc sư của những tác phẩm dẫn đường trong công cuộc tái thiết kiến trúc Nhật Bản từ đống tro tàn của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, Kenzo Tange sinh ra từ thành phố nhỏ lmabari, đảo Shikodul Nhật Bản vào năm 1913. Xuyên vuốt sự nghiệp sáng tác của mình, Kenzo Tange đã thể hiện các tác phẩm một cách tài tình bằng sự pha trộn nhuần nhuyễn các yếu tố thẩm mỹ phương Tây và yếu tố truyền thống của Nhật Bản.
Cùng với Kenzo Tange còn có các kiến trúc sư Jungo Sakakura sinh nãm 1901 hay Kunio Mayekava sinh năm 1905 và nhiều kiến trúc sư khác đã mang đến cho kiến trúc Nhật Bản một nội dung mới. Bằng sự khai thác các nét đạc trưng của kiến trúc truyền thống đồng thời coi những nét truyền thống như là sự bắt nguồn của cảm hứng sáng tác, các kiến trúc sư đã rất coi trọng nhu cầu của cuộc sống mới.
Kenzo Tange nói: “Sự từ chối một cách đơn giản những phương pháp học được ở truyền thống là không thực tiễn nhưng những phương pháp mới phải được tìm tòi, kiến trúc phải được va chạm mặt đối mặt với thực tiễn hiện tại”, “truyền thống dân tộc là một vòng đá đeo cổ quý giá, nhưng chúng ta phải phá vỡ chúng thành những mảnh nhỏ và ghép chúng lại dưới những dạng mới”, “Truyền thống đóng vai trò chất xúc tác trong quá trình sáng tác không hơn không kém”.
Tinh thần đó của các KTS Nhật Bản lúc bấy giờ đã dành được sự tán thưởng của mọi người sau khi kiến trúc sư Kenzo Tange và các KTS khác cùng thời đã có những công trình kiến trúc giàu chất sáng tạo, lấy cảm hứng thiết kế từ kiến trúc gỗ dân gian truyền thống Nhật Bản, nó đã dấy lên làn sóng dư luận không chỉ ở Nhật Bản mà còn ở các nước phương Tây.

Tổng quan vể kiên trúc đương đại Nhật Bản - P1 1

Việc sử dụng có cân nhắc và đúng mực các thành tựu kĩ thuật và tinh hoa kiến trúc cổ truyền duới dạng mới, khiến cho nền kiến trúc Nhật Bản có đuợc nhũng công trình nổi tiếng nhu Bảo tàng Hoà Bình Hirosima (1949 – 1996) của Kenzo Tange sau khi ông là nguời đã dành chiến thắng trong cuộc thi thiết kế Bảo tàng ở Hirosima, thành phô bị phá huỷ trong cuộc tấn công nguyên tử đầu tiên của thế giới và nay bảo tàng đã trở thành biểu tuợng cho uớc vọng hoà bình của con nguời, Bảo tàng nghệ thuật hiện đại ở Tokyo của kiến trúc su Jundo Sakakura (1951), Cung hội nghị thành phố Tokyo (1958 – 1961) Của Kunio Mayekawa hay Cung thể thao Olympic Tokyo (1964) của Kenzo Tange.
Là học trò của KTS bậc thầy Kenzo Tange, Kisho Kurokawa sinh năm 1943 tại thành phố công nghiệp Nagoya, KTS lừng danh với triết lý “Kiến trúc cộng sinh”, nghĩa là hoà trộn những gì vốn tuơng phản với nhau giũa tính địa phuơng và tính toàn cầu, giũa môi truờng tự nhiên và không gian hiện đại. Các tác phẩm nổi tiếng của ông nhu tháp Nakagin Capsule, Tokyo – hình tổ én năm 1972 với toàn bộ hệ thống nhà dựa trên hai nút giao thông, đồng thời là hai hệ kết cấu chịu lục, Bảo tàng nghệ thuật Nagoya (1987) hay “Những chiếc cánh mới” của Bảo tàng Van Gogh ở Hà Lan (1990 – 1998). Cùng thời với Kisho Kurokawa còn có kiến trúc su Arata lsozaki sinh năm 1931 tại Oita, Kyushu. Ông cũng là học trò của KTS Kenzo Tange. Ông rất thích thú với các ý tuởng kiến trúc truyền thống trong các công trình thiết kế của mình nhu lsozaki muốn đua phong thuỷ trong thiết kế không gian khi ông thiết kế toà nhà Team Disney ớ Orlando, Florida. Và toà nhà này đã giành giải thuởng quốc tế của AIA năm 1992.
Arata Isozaki đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa chuyển hoá, ông ấn tuợng mạnh những yếu tố hình học. Ngôn ngữ hình học đơn giản của ông có thể thấy qua câu lạc bộ Golf ở Oita và Bảo tàng nghệ thuật ở Gunma. Chúng đuợc thiết kế theo kiểu Hậu hiện dại. lsozaki nói rằng: “Hình vuông cũng nhu hình tròn đều là những công cụ thục tiễn trong kiến trúc”. Những dụ án hiện nay của ông đuợc coi là điển hình của sụ thành công trong sụ nghiệp ba muơi năm sáng tác.
Thế hệ thứ 3 của kiến trúc Đuơng đại Nhật Bản phải kể đến đó là KTS Fuhimiko Maki, Hiroshi Hara và Tadao Ando.
Một trong những KTS theo chủ nghĩa kiến trúc Hiện đại có nhiều kinh nghiệm là Fuhimiko Maki sinh 1928 ở Tokyo, tốt nghiệp đại học Tokyo, sau đó học thiết kế tại truờng Harvard và làm việc một thời gian tại Mỹ truớc khi thành lập xuởng thiết kế riêng nhu các KTS Nhật Bản khác cùng thời. Ông đuợc đánh giá nhu một KTS theo chủ nghĩa hiện đại mới, đã gắn kết một cách sâu sắc và tinh tế kiến trúc truyền thống Nhật Bản trong tác phẩm kiến trúc. Với Maki, nhũng chi tiết tỉ mỉ đóng vai trò quan trọng trong việc trang trí.
Maki đã đua ra những quan điểm về sức mạnh của sụ khéo léo và Bảo tàng nghệ thuật Kyoto nhu là một ví dụ cho nhũng chi tiết mà ông đã sử dụng nhu panel trần hay sụ sắp đặt lan can cầu thang. Maki nói: “Những chi tiết được làm tốt là những vật thay thế cho việc trang trí những gì trong quá khứ”.
Hiroshi Hara sinh 1936, với ông kiến trúc không chỉ là một câu hỏi về kiểu cách mà nó còn để cập tới quy luật của tự nhiên. Cấu trúc tự nhiên của làng xóm trên những hòn đảo Cyclades ở Hi Lạp hay trong những khu rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ là những minh hoạ cho các ý tường của ông. Hara quan tâm tới chúng như “tiêu điểm của hành tinh”. Bẽn cạnh đó ông còn rất thích thú với các vật liệu công nghệ cao như nhôm và thép. Từ những ý tưởng, ông đã thổi chúng vào các tác phẩm thực tế của mình như Yamato International Building năm 1987, Umeda Skycity 1993. Hara nói: “Tôi thực sự thích những công trình thiết kế của tôi, nó xóa nhoà đi đường bao ngăn cách giữa thiên nhiên và kiến trúc”.
Tadao Ando sinh nãm 1941 tại Osaka, là người chưa từng học qua trường kiến trúc, nhưng những gì ông cống hiến không chỉ cho nền kiến trúc Đương đại Nhật Bản nói riêng và trên toàn thế giới nói chung đã làm cho chúng ta thực sự kính phục. Hiện nay ông được biết đến như một chuyên gia của kiến trúc bêtông. Ba yếu tố nổi bật trong những công trình của Ando đó là tình yêu hình học, niềm khao khát kết hợp thiên nhiên vào trong những công trình kiến trúc và sự tiếp thu những vật liệu xác thực đặc biệt là bêtông. Những công trình thể hiện rõ ý tướng của ông là Rokko Housing II ở Kobe, hay Đền thờ trên nước ở Hokkaido. Ando nói: “Chúng ta cần sắp xếp để đem những chân giá trị tới cuộc sống”.