Phật giáo, nhất là Phật giáo Đại thừa nhấn mạnh hai cụm chữ Từ bi và Trí tuệ. Adiđà. có thể tạm dịch là “ánh sáng vô lượng” và “thọ mệnh vô lượng”.
Còn trong giáo trình “Văn hoá Trung Hoa” do tác giả Đặng Đức Siêu đã viết: “Là một bước cách tân trong lĩnh vực tôn giáo, Thiển tông không thê không xuất hiện với tư cách là một tông pháp có tinh thần phá bỏ quyền uy truvển thống, phá bò sự ràng buộc vế kinh tế, nghi thức, dứt bỏ cái vòng luẩn quẩn nghiệp báo luân hồi, chủ trương diệu hoá (tức đạo của Phật Thích ca) có thể tìm thấy ngay trong các công việc “khuân củi gánh nước”; mở rộng phạm vi của Niết bàn – “Thế giới cực lạc phương Tây” đến vô cùng, đặt nó vào trong lòng rgười, quan niệm người ác đến đâu chăng nữa, chỉ cần “bỏ đao xuống” quay về với thiện tâm, thế là có thể thành Phật”.
Nói đến thành quả của hoạt động truyền bá Phật giáo ở Trung Quốc không thể không nói tới việc dịch và in Kinh Phật. Các thời Đông Hán, Tam Quốc và Tây Tấn là thời kỳ phiên dịch kinh Phật của Phật giáo Trung Quốc. Hầu như toàn bộ kinh sách chủ yếu của Phật giáo hiện nay đã được chuyển thành chữ Hán gồm 1520 bộ với 5620 quyển đang được bảo tồn.
Bên cạnh việc dịch kinh Phật thì việc in ấn đã để lại một kho tàng trong kinh Phật ở Trung Quốc còn giá trị tới ngày nay. Từ đời Tống, bộ tổng tập Kinh điển Phật giáo – Đại tạng kinh – đã dịch ra chữ Hán, bao gồm ba bộ phận: Kinh (lời Phật dạy), Luật (quy tắc tu tập của giới tu hành), Luận (các tác phẩm nghiên cứu, giải thích giáo lý). Gần một ngàn năm, từ đời Tống đến đời Thanh, Đại tạng kinh đã được nhắc tới 20 lần. Ngoài ra còn có một sô bộ Kinh Phật được dịch sang Hán Vãn như Kinh A Hàm, Kinh Bát Nhã, Đàn Kinh. Một số tài liệu khác cho biết Bộ Càn Long Đại Tạng Kinh đời Thanh (1738) gồm 1669 bộ, 7168 quyển và Trung Hoa Đại Tạng Kinh thời hiện tại có sô lượng lên tới 23.000 quyển. Nơi thờ phụng Phật cũng là một thể thức được quan tâm, ban đầu nó được xây dựng theo truyền thống của Ấn Độ lấy nơi thờ Phật là trung tâm xung quanh là hành lang và vườn cây. Sau đó đến đời Đường thì nơi thờ Phật đã được thiết kế hoàng tráng đồ sộ hơn, lấy điện thờ làm trung tâm bao gồm một số các hạng mục khác như: Sơn môn, Phật điện (với nhiều điện thờ), Pháp đường (nơi giảng Kinh), Tãng đường (nơi tọa thiền), Trù khố (nhà bếp và nơi ãn), Dục thất (nhà tắm) và Đông ty (vệ sinh).
+ Đạo giáo:
Đạo giáo là một tôn giáo bản địa của Trung Quốc có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa tinh thần của người Trung Quốc. Trong lịch sử phát triển tư tưởng vãn hoá Trung Quốc có Đạo gia và Đạo giáo vì vậy cần phân biệt hai loại tư tưởng này. Đạo gia là một hệ tư tưởng triết học, xã hội chính trị hình thành vào khoảng thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc với Lão Tử và Trang Tử là những nhân vật tiêu biểu (Đặng Đức Siêu [1]). Còn Đạo giáo có một lịch sử phát triển khá phức tạp. Trong cuốn “Những nền mĩ thuật ngoài phương Tây” có viết: “Đạo giáo đem lại những nguyên lý quan trọng hướng dẫn cuộc sống riêng tư và tâm linh cho cá nhân. Đạo giáo là một từ chung để chỉ những tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” nằm trong cốt lõi kiến thức của người Hoa về thế giới, một sự hiểu biết luôn khao khát tìm kiếm trạng thái quan bình trực cảm với thiên nhiên”. Lão Tử sinh khoảng 604 trước Công nguyên đã ghi chép cẩn thận nhiều nguyên lý về Đạo giáo. Nhiều nhà tư tường sau ông đã thuyết giải, dạy người ta cách sông hoà hợp với tự nhiên và vũ trụ.
Đến thời nhà Đường, Đạo giáo đã đại được tới đỉnh cao và gần như được coi là đạo chính thống của hoàng gia, đặt Đạo giáo ên trên đạo Nho, đạo Phật, tôn Lão Tử lên làm Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế. Tác phẩm Đạo Đức Kinh của Lão Tử đã đứng vào hàng ngũ sách giáo khoa và môn thi cử. Trong tác phẩm đã giải thích rằng Đạo nằm sâu trong lòng tự nhiên. Để cảm nghiệm Đạo, người ta phải buông xả tự ngã của mình và hoà hợp vào dòng chảy của sự sống. Qua chiêm nghiệm và tự phát, đạo sĩ có thể tìm thấy sự hoà hợp đó với những bản năng tự nhiên của mình và dòng chảy của thiên nhiên.
Dưới thời nhà Tống, Đạo giáo được sùng bái trong khi Phật giáo đang bị tiêu diệt và có chủ trương đốt Kinh Phật. Đến thời nhà Minh thì Đạo giáo còn được sùng bái hơn nữa kết quả là sự ra đời của tập kinh được khắc in Vạn Thọ tạng kinh gồm 180 quyển cùng với quyển Chính thống Đạo tạng được khắc in trước đó thành bộ Đạo tạng còn nguyên vẹn tới ngày nay gần 5485 quyển.
Địa vị của Đạo giáo ngày càng bị hạ thấp ở thời nhà Thanh, nó mất gần hết các đặc quyển đặc lợi đã có từ trước. Mặc dù vậy, Đạo giáo vẫn được số đông quần chúng tin theo. Một số Đạo giáo quan trọng là Ngũ Đấu Mễ Đạo, Thái Bình Đạo và Toàn Chân Đạo có số tín đổ theo nhiều nhất.
+ Kito giáo:
Thiên chúa giáo bắt đầu truyền vào Trung Quốc từ giữa thế kỷ XIII khi tu sĩ dòng Fransiscan được cử sang kinh đô nhà Nguyên. Montecorvino là người Ý đã sang Hãn Bát Lí – Bắc Kinh hiện nay được Nguyên Thành Tông tiếp đón và cũng thời gian này đã chính thức cho phép xây dựng nhà thờ và truyền giáo tại kinh thành. Đây chính là thời điểm đầu tiên đánh dấu sự có mặt của Thiên Chúa giáo ở Trung Quốc. Montecorvino được phong làm tổng giám mục của Hãn Bát Lí và tiếp tục cử một số tu sĩ khác cùng thuộc dòng tu với ông sang Trung Quốc truyển đạo. Số lượng tín đồ ngày càng đông lên, tới 60 nghìn tín đồ đa số tập trung tại một số tỉnh. Năm 1328, Montervino qua đời, lúc này chức tổng giám mục không có người thay thế nên các hoạt động của Thiên chúa giáo Trung Quốc có phần đi xuống và gần như biến mất ở nội địa Trung Quốc.
Cùng với sự khai thông những tuyến đường hàng hải mới và sự phát triển của chủ nghĩa thực dân ở các quốc gia phương Tây, sự truyền giáo ở Trung Quốc nói riêng và ở nước ngoài nói chung đã bắt đầu khởi sắc trở lại. Sự nghiệp Thiên Chúa giáo bắt đầu phát triển sâu rộng ở Trung Quốc từ khi giáo sĩ dòng Tên Matteo Ricco sang Trung Quốc. Một phương thức truyền bá mới đã được ông áp dụng với ý nghĩa là chiếc cầu nối truyền bá tri thức khoa học, kết hợp giáo nghĩa của Thiên Chúa giáo với quan niệm luân lí của Nho gia để truyền giáo. Theo con số thống kê nãm 1701, hoạt động theo đạo Thiên Chúa giáo trên khắp đất nước có tới 117 giáo sĩ, 250 nhà thờ lớn bé và hơn 300 nghìn giáo đồ.
Một sự sắp xếp lại cách quản lý các giáo khu khác nhau đã đuợc Giáo Hội La Mã thiết lập do Thiên Chúa Giáo phát sinh mâu thuẫn và xung đột với đời sống văn hóa của người dàn Trung Quốc. Thêm vào đó là sự mâu thuẫn và sự kiện “tranh cãi về lễ nghi Trung Quốc” kéo dài 100 năm vì vậy Hoàng Đế Khang Hy nhà Thanh đã ra lệnh cấm giáo nãm 1720 và bắt các tu sĩ về nước trừ một số các tu sĩ đang phục vụ trong triều đình. Tuy nhiên một số giáo sĩ nước ngoài vẫn bí mật vào các vùng nội địa của Trung Quốc để truyền bá.
Trung Quốc đã trở thành nước nửa phong kiến thuộc địa sau cuộc chiến tranh thuốc phiện. Đến năm 1844 quy định được kí kết giữa nhà Thanh và thực dân Pháp của “Điều ước Hoàng Phố” đã cho phép người Pháp xây dựng nhà thờ tại 5 cửa khấu thông thương và các quan chức Trung Quốc phải có trách nhiệm bảo vệ.
Lúc này các giáo sĩ Kito được tiếp tục công khai hoạt động truyền giáo của mình. Nãm 1846 triều đình nhà Thanh phải tuyên bố chính thức dỡ bỏ lệnh cấm giáo đồng thời trao trả lại tất cả các nhà thờ đã được xây dựng.
Đến thế kỷ XIX, số lượng giáo sĩ phương Tây vào Trung Quốc ngày càng đông, nhiều cuộc dấu tranh tôn giáo đã nổ ra đây cũng là cái cớ để đế quốc lợi dụng xâm lược Trung Quốc. Trước sức ép của các nước phương Tây, triều đình nhà Thanh đã áp dụng chính sách bảo vệ Kito giáo và đàn áp nhân dân. Làn sóng phản đối trong nhân dân ngày càng mạnh mẽ dẫn đến nhà Thanh bị diệt vong, tinh thần yêu nước của các giáo dân Thiên Chúa giáo Trung Quốc nâng cao rõ rệt. Phong trào Ngũ tứ tức giám mục Trung Quốc phải được phụ trách giáo phận và phản đối xu hướng coi thường vãn hoá Trung Quốc trong nội dung giảng dạy ở các tu viện.
Sau phong trào này, Giáo Hội La Mã đã phải công nhận “Trung Quốc hoá” Thiên Chúa giáo. Khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Quốc ra đời, Hội yêu nước Thiên Chúa giáo đã được thành lập vào năm 1957.