– Tín ngưỡng
Để giải thích cho những hiện tượng tự nhiên, những thực thể động thực vật có liên quan đến đời sống của con người cùng với vô vàn những vấn đề liên quan đến sự sống, cái chết, bệnh tật trước uy lực của thiên nhiên bao quanh cùng với những tai hoạ khôn lường trong cuộc sống sinh tồn, người Trung Quốc với sự hiểu biết ban đầu thô sơ hạn hẹp đã cố gắng tìm ra những lý lẽ nhưng tất cả đều mang màu sắc thần bí. Đây chính là cơ sở đưa tới sự hoạt động tín ngưỡng của người Trung Quốc có thể thấy rõ qua hai hình thức sau:
– Sùng bái tự nhiên
Mặt trâng, mặt trời, trái đất, mưa nắng, gió mây, đất đá, cây cỏ… tất cả đểu được thần linh hoá, đều được cúng bái để cầu phúc, trừ tai ương và hiểm hoạ. Theo sách cổ có ghi lại Hi Hoà sinh ra mười mặt trời thay phiên nhau chiếu sáng ban ngày để con người sinh sống và làm ăn, Thường Hi sinh ra mười hai mặt trăng thay phiên nhau chiếu sáng ban đêm để cuộc sống dưới trần gian đỡ tối tăm khi mặt trời lặn. Chính vì vậy mà mặt trời và mặt trăng được thần dân thiên hạ cúng tế rất trọng thể với mong muốn đem lại những điều thuận lợi cho cuộc sống của họ. Theo thông lộ thì mười mặt trời không được xuất hiện cùng nhau tuy nhiên vào một ngày mười mặt trời đã xuất hiện cùng một lúc như sự cho phép của vua Nghiêu, theo như Hoài Nam tử (bộ sách thời Hán) bị coi là ác nhân bởi nó đã đem đến cái nóng như thiêu như đốt đã làm cho đất đai nứt nẻ, sông ngòi ao hồ khô hạn, cây cối lúa ngô héo úa, nhiều người đã chết do khô hạn; Vì vậy vua Nghiêu đã vội cầu cứu Hậu Nghệ để bắn rụng chín mặt trời chỉ để lại một để chiếu sáng cho nhân gian. Hiện nay thần thoại “Hậu Nghệ bắn mặt trời” vẫn thấy xuất hiện ở những vùng nắng nóng, luôn khô hạn. Mặt trời luôn được người dân thờ phụng để cầu phúc nhưng cũng là một sức mạnh phá hoại cần phải tìm cách kiềm chế.
Cho đến bây giờ tục thờ Đất hay còn gọi là thờ thổ công thổ thần vẫn còn được lưu truyền. Tất cả các thần dân đểu có quyền cúng tế Đất. Nơi thờ cúng thổ công thổ thần có ở hầu hết các gia đình dù nhà cửa có kích thước to nhỏ đến đâu. Theo tục truyền, nền để tế Đất thường là nền cao, đối với các vương triều những chỗ để tế Đất thường ở bên phải Hoàng Thành, được tổ chức thường niên rất long trọng do vua làm chủ tế.
Bèn cạnh đó gió, mưa, các ngọn núi hay sông hồ đểu là những đối tượng được sùng bái. Hầu như tất cả các buổi tế lễ này đểu do vua chúa đích thân trực tiếp làm lễ.
– Sùng bái Tôtem
Là một trong những ngôn ngữ bản địa của cư dân Bắc Mỹ, Tôtem được dùng đê nói tới một phong tục tín ngưỡng nguyên thuỷ bằng việc coi động vật, thực vật … có quan hệ họ hàng thân thuộc với thị tộc là thần bảo hộ, là tên gọi, là biểu tượng của một dân tộc.
Rồng là một sản vật sùng bái độc đáo Tôtem của Trung Quốc. Rồng – con vật không có thật, nó được sinh ra từ trí tưởng tượng phong phú của con người. Con rồng mà chúng ta thấy trong điêu khắc hội hoạ hiện nay đều là hình tượng miêu tả của Vương Phó thời Tây Hán. Nó là con vật giống chín bộ phận của các con vật khác: Sừng hươu, tai bò, đầu rắn, mắt thỏ, vuốt chim ưng, móng hổ, vây cá chép, bụng con vọp lớn, đỉnh đáu rắn. Đến nay Rồng được cho rằng phần lớn nó có nền tảng chủ yếu từ rắn.
Ngày nay “Rồng” chính là biểu tượng của người dân Trung Quốc mang ý nghĩa cho sự đoàn kết của đại gia đình dân tộc Trung Quốc là hoá thân của niềm hy vọng tốt đẹp của toàn thể thành viên trong tộc. Văn hóa Rồng là tinh thần dân tộc giữ nước nhà đoàn kết đi lên. Trung Quốc được gọi là “Con rồng lớn phương Đông”.
Sùng bái Tôtem có nhiều hình thức nhưng chủ yếu chúng ta có thể thấy qua hai hình thức chủ yếu đó là hình tượng Tôtem được chạm, khắc, thêu, dệt lên quần áo, vật dụng, vũ khí, cờ quạt, nhà cửa, mồ mả để tỏ lòng tôn kính hay để phân biệt với các cộng đồng thị tộc khác. Một hình thức nữa đó là việc xác định nghi thức cầu cúng, định kỳ tổ chức cúng tế “vật tổ”, xác định một loạt các hình thức cấm kị như cấm giết, cấm ăn, cấm tiếp xúc với “vật tổ”, (hoặc ngược lại). Cấm trai gái cùng thờ một “vật tổ” kết hôn với nhau … và với nhiều các điều cấm li kỳ khác.
– Thờ cúng vong linh tổ tiên
Người Trung Quốc xưa kia đã tin rằng sau khi chết cái hồn hay tinh anh vẫn còn sống và tồn tại trong một thế giới khác – thế giới vong linh nhưng vẫn có mối quan hệ chặt chẽ nhất định với trần gian. Không những vậy theo họ những vong linh này còn có khả năng nhìn thấu, quan sát và theo dõi người trần gian tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà nó ban phúc hay giáng hoạ cho người trần. Theo ghi chép trong sử sách thời xưa, có rất nhiều hoạt động cúng lễ vong linh để cầu phúc nhưng xét theo thực chất thì đó không phải là nội dung chủ yếu của tín ngưỡng thờ cúng vong linh. Ý nghĩa sâu xa nhất của việc thờ cúng này gắn bó với sự tưởng niệm và ghi nhớ công ơn tổ tiên của các thế hệ con cháu. Lòng biết ơn được mở rộng ra, hướng về những người lúc sống không tiếc công tiếc của ra sức mưu cầu hạnh phúc, an lành, thịnh vượng cho dòng họ, xóm làng, cộng đồng dân tộc, cho đất nước.
Chính vì vậy cho đến tận ngày nay chúng ta thấy trong từng gia đình có bàn thờ gia tiên, với từng dòng họ thì có từ đường; với Hoàng gia thì có tông miếu, thái miếu thờ thiên vương. Những việc thờ cúng ở trên có nhiều điểm quen thuộc với người dân Việt Nam nhưng riêng việc thờ cúng thành hoàng thì có phần khác nhau. Ở Trung Quốc Thành hoàng là thần bảo hộ đô thành, trung tâm hành chính và phố phường còn ở Việt Nam thì thành hoàng là thần bảo hộ làng xã. Việc thờ cúng tổ tiên vẫn được đa số các gia đình Việt Nam duy trì cho tới bây giờ.
– Lễ nghi
Một đất nước với nền văn hoá, lịch sử tới hàng ngàn năm đã tồn tại những chế độ lễ nghi rất phong phú đặc sắc nhưng cũng đầy sự phức tạp phản ánh các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng và những mối quan hệ kinh tế xã hội chính trị nhất định tương truyền có nguồn gốc từ thời Tây Chu. Những nguyên tắc về lễ tục nói chung chi phối cả xã hội, nhưng có những nghi thức lễ tiết, theo chế cổ, chỉ có một số tầng lớp nhất định được thi hành,. Phải chăng, nhiều nghi lễ mang hình thức phiền toái không thuận tiện, tốn kém nên phải chăng chỉ tầng lớp giàu có sang quyển mới có thê đủ tiền bạc phương tiện đê thực hiện.
+ Quan, Hôn, Tang, Tế – là bốn lễ tiết lớn đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần ngày xưa.
Quan lễ – là lễ Gia quan (lễ Đội mũ) ở tuổi trưởng thành, nó công nhận người thanh niên là một thành viên chính thức có đầy đủ mọi quyền lợi và nghĩa vụ trong thị tộc.
Hôn lễ – là lễ nghi về việc cưới xin. Việc lấy vợ gả chồng được cổ nhân coi là việc lớn cũng như Hán Thuyên Đế nói về việc hôn thú: “Hôn nhân là một việc quan trọng lớn lao bậc nhất trong luân thường đạo lý của con người”. Vì vậy mà Hôn lễ thời xưa được tiến hành với một hệ thống lễ tiết rất long trọng nhưng bên cạnh đó sự hoà hợp sống chung giữa hai vợ chồng được hiểu biết một cách sai lệch nên đã dẫn đến nhiều bi kịch trong gia đình. Ngày nay việc hôn lễ đã được tiến hành đơn giản hơn và cũng bị phương Tây hoá, đặc biệt đa số hai người được tự do lựa chọn người bạn đời của mình khác với những phép tắc trong hôn lễ thời xưa.