Sự phát triển của Văn hóa Việt Nam được các nhà nghiên cứu chia là ba giai đoạn khác nhau, gắn liền với lịch sử hình thành của đất nước. Đó là giai đoạn sơ khai vãn hóa, giai đoạn đỉnh cao của vãn hóa truyền thống và giai đoạn chuyển tiếp sang hiện đại.
– Giai đoạn sơ khai văn hóa
Trong giai đoạn tiền sử sơ khai, tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng là nét đặc trưng của cư dân nông nghiệp (Hồ Liên 2008). Mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người Việt Nam chính là xuất phát điểm cho văn hóa việt nam, vì đó là “sản phẩm của con người, là phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách dô của tự nhiên” (Trần Quốc Vượng (2003, 86). Từ công cuộc đối chọi với tự nhiên mà đã hình thành những giá trị về tinh thần tập thể, cộng đồng.
Ở giai đoạn này, trong tư tưởng của người Việt, “sự thiêng liêng của núi non sông nước gắn liền với sự thiêng liêng của con người” (Hồ Liên 2008, trang 125). Đó là sự tôn trọng, sùng bái và gắn bó mật thiết với thiên nhiên. Điều đó được thể hiện qua một quan điểm biện chứng thô sơ vể cấu trúc, sự vận động của vạn vật trong tự nhiên qua các cặp phạm trù đối lập như đất – trời, đực – cái, nắng – mưa v.v… được cô đọng và thể hiện tập trung cao nhất trong ý tường phồn thực. (Hà Vãn Tấn 2000; Trần Ngọc Thêm 2001). Sống trong môi trường tự nhiên với đầy sự nguy hiểm bất trắc, khiến việc con người tôn sùng sự sinh sôi nảy nở, sự phát triển của muôn loài. Tất cả những điều đó tồn tại trong đời sông cảm tính của con người và được truyền tải và thể hiện trong các sinh hoạt vãn hóa dân gian, ứng xử với cộng đồng xã hội và với thế giới tự nhiên. Đỉnh cao phát triển của giai đoạn này là thời kì Đông Sơn (khoảng thê kỷ 7) trước Công nguyên được xem như kết tinh hội tụ vãn hóa của các giai đoạn trước đó. Dấu tích của quan niệm phồn thực này còn được lưu giữ ớ các hình điêu khắc trên trống đồng Đông Sơn, thể hiện các quan điểm thô sơ về cấu trúc âm dương lưỡng cực của vũ trụ và mối quan hệ luyến ái nam nữ, hoặc các tập tục sịnh hoạt lễ hội cầu mùa, cầu sinh sôi nảy nở.

Tiến trình phát triển của văn hóa Việt Nam 1

– Giai đoạn hình thành văn hóa truyền thống
Đây là giai đoạn gắn liền với cuộc chiến đấu trường kỳ của cộng đồng người Việt xác lập chủ quyền quốc gia và chủ quyền dân tộc. Mặc dù trước đó đã có những giao lưu vãn hóa giữa Việt Nam và các nền vãn hóa ở khu vực Đông Nam Á, nhưng theo giáo sư Chu
Xuân Diên, trong giai đoạn này “nền vãn hóa bản địa Đông Nam Á bắt đầu một quá trình chuyển vùng sang khu vực vãn hóa Đóng Á” (Hồ Liên 2008, trang 126).
Mở đầu giai đoạn này là thời kỳ Bắc thuộc, xuất hiện sự giao thoa vãn hóa cưỡng bức với sư xâm nhập và ảnh hưởng manh mẽ của vãn hóa Trung Hoa. Trong giai đoạn trước, người Việt đã xây dụng được một trình độ vãn minh tương đối cao và có bản sắc độc đáo. Vì vậy, trước chính sách dồng hóa cúa Trung Hoa, đã xuất hiện sự để kháng của văn hóa bản địa. Từ đó hình thành sư hấp thụ và tiếp biến (acculturation) các giá trị vãn hóa của người Hán, trớ thành động lực cho sư phát triển, nhờ đó văn hóa Việt trớ nên phong phú và đa dạng hơn (Đinh Gia Khánh 1996). Trần Ngọc Thêm gọi đó là “sự song song tồn tại cúa hai xu hướng trái ngược nhau: Hán hóa và chông Hán hóa về mật vãn hóa” (2001, trang 87). Quá trình đó có thể thấy ớ sự du nhập và biến đổi của Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo.
Đạo giáo xuất phát từ Trung Hoa đã hòa nhập với tín ngưỡng đa thán bán địa, đến mức “khó phân biệt đâu là tín người cố truyền cúa người Việt, đâu là tôn giáo ngoại nhập” (Hồ Liên 2008, trang 127). Nguyên nhân cúa điểu đó là Đạo giáo đã tìm thấy những tín ngưỡng tương đồng đã có sẩn từ lâu ớ CƯ dân bản địa như Đạo phù thúy, Đạo Mẫu
Phật giáo từ Ân Độ du nhập vào Việt Nam khoáng đáu Công nguyên. Do du nhập bằng con đường hòa bình, chứa đựng những triết lí không mâu thuản với tín ngưỡng bán địa. Phật giáo đã nhanh chóng dung hòa hoặc thay thế tín ngưỡng bán địa (Nguyền Xuân Kính 1996). Một trong sô các trung tâm Phật giáo lớn nhất khu vực lúc đó là Luy Lâu ớ đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Một đặc điểm đáng chú ý của Phật giáo Việt Nam là do ánh hướng cúa vãn hóa nông nghiệp trọng âm nên Phật giáo Việt Nam có khuynh hướng thiên về âm tính. Ta có thế thấy điểu đó qua sự chuyến biến từ những vị Phật đàn ông trong tôn giáo An Độ nguyên thủy, chuyến hóa thành Phật ông – Phật bà trong đạo Phật ớ Việt Nam (Trần Ngọc Thêm 2001). Bên cạnh đó tính xuất thế, thoát trán nguyên thúy cúa Phật giáo Ân Độ, khi vào Việt Nam đã bị bản địa hóa qua sự thâm nhập từ kín đáo của tín ngưỡng phồn thực vào Phật giáo qua các truyền thuyết vể Phật mảu Man nương, hình tượng linga. cho đến biếu hiện rõ ràng ớ điêu khắc trang trí đinh chùa (Nguyền Văn Cương, 2006).
Bên cạnh đạo Phật, đạo Hindu đến từ An Độ, du nhập vào miền Trung và Nam Việt Nam từ đầu Công nguyên đã bản địa hóa thành nền vãn hóa Chãm. Tuy thu nhận nguồn gốc ánh hướng từ Ân Độ, nhưng vãn hóa Chãm còn chịu ảnh hướng cúa vãn minh bán địa Sa Huỳnh và vãn minh nông nghiệp của khu vực Đông Nam Á. Điểu này được thể hiện qua tín ngưỡng phổn thực với tục thờ cặp linh vật Linga-yoni hay chế độ mẫu hệ trong tuyển thông văn hóa của người Chãm.
Nho giáo được các quan lại thông trị Trung Hoa đem vào Việt Nam từ đầu Còng nguyên. Nếu như Đạo giáo, Phật giáo sớm tìm được chỗ đứng trong dân gian thì Nho
giáo chỉ thâm nhập được vào tầng lớp trên của xã hội. Tuy nhiên, chính Nho giáo lại góp phần hình thành tư tưởng độc lập của giai cấp phong kiến bản địa. Trở thành một công cụ hữu hiệu cho việc định hình một ý thức hệ mang tính quốc gia, khởi đầu với sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân của Lý Nam Đế (Đinh Gia Khánh, 1996). Từ đó, Nho giáo cung cấp một hệ thống các quy tắc cơ bản cho việc vận hành bộ máy nhà nước phong kiến bản địa, đưa Việt Nam vào khối các nước Nho giáo trong khu vực. Tuy nhiên, tương tự như Đạo giáo và Phật giáo, Nho giáo đã có những biến đổi phù hợp với văn hóa bản địa. Đỉnh cao của sự kết hợp biến đổi này là tư tưởng Tam giáo đồng nguyên thời Lý Trần.
Trong giai đoạn này, nển vãn hóa dân gian mạnh mẽ, đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển của vãn hóa dân tộc. Đây là cội nguồn phát triển các dòng vãn hóa khác như văn hóa chuyên nghiệp, bác học và cung đình. Dòng văn hóa này đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội, từ người dân thường cho đến tầng lớp thống trị. (Phan Ngọc 2001). Đến thời nhà Lê và Nguyễn, với tính chất tập trung cao độ của nhà nước phong kiến tập quyền, độc tôn của Nho giáo, mới xuất hiện sự phân hóa sâu sắc giữa vãn hóa bác học và vãn hóa dân gian.
Có thể nói, tổng quan về văn hóa trong giai đoạn này “thê hiện bản sắc và bản lĩnh của một dân tộc đã trưởng thành, nền văn hóa ấy phản ảnh đời sống của một nước vãn hiến” (Đinh Gia Khánh, 1996, trang 243) với sự hình thành các nhà nước phong kiến cổ đại của Việt Nam Lý – Trần – Lê. Điều này được Nguyễn Trãi nêu rõ trong bản Tuyên ngôn độc lập Bình Ngô đại cáo:
“Nhớ nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xiữig nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Củng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”
– Giai đoạn chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại
Đây là giai đoạn mang tính bước ngoặt với sự xuất hiện của nền văn minh phương Tây. Nếu như ở giai đoạn trước, văn hóa Việt Nam từ khu vực Đông Nam Á bước hẳn vào quỹ đạo vãn hóa Đông Á, thì ở giai đoạn này văn hóa Việt Nam tiếp tục va chạm, tiếp xúc với các nền văn minh phương Tây. Mặc dù sự va chạm này không làm thay đổi quỹ đạo vốn có của vãn hóa Việt, nhưng đã “tác động toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần của người Việt, làm rạn nứt hệ giá trị đã hình thành từ lâu đời của văn hóa truyền thống, (Hồ Liên 2008, trang 128).