Nghệ thuật kiến trúc nhà ở dân gian châu Á có nhiều nét rất đặc sắc, nó mang đậm chất fonklor. Vì vậy thế giới nói chung rất để tâm đến việc nghiên cứu những ngôi nhà ở truyền thống châu á, đặc biệt là đối với các nước Nhật Bản, Trung Quốc và Đông Nam Á.
Ngôi nhà ở dân gian Nhật Bản tuy có ít dần đi so với những ngôi nhà chọc trời mọc lên theo quá trình đô thị hoá căng thẳng, nhưng trong kiến trúc thì kích thước vật lí (có nghĩa là to hay bé) đôi khi ít có ý nghĩa, ngôi nhà ở dân gian Nhật Bản tuy nhỏ nhưng vẫn là những viên ngọc.
Những nét đáng chú ý ở ngôi nhà Nhật Bản là cách bố cục không gian, cách tổ chức mặt bằng linh hoạt, phương thức trang trí cũng như cách sử dụng vật liệu xây dựng, cũng ở đây mối liên hệ giữa ba yếu tố con người – ngôi nhà – thiên nhiên được giải quyết một cách tuyệt diệu.
Kiến trúc gỗ Nhật Bản có truyền thống lâu đời, tới thế kỷ thứ IV đã trở nên rất điêu luyện. Vào thế kỉ XII, khi những Tatami (chiếu bện bằng rơm rạ, chiều dài gần 2 mét, chiều rộng bằng nửa chiều dài) trở thành một đơn vị đo điển hình thì nhiều hình thức không gian ở đã ra đời và sau này mặt bằng ngôi nhà được hình thành bằng cách ghép ít hay nhiều các tatami (từ 3, 5, 4,5 đến 6, 8, 10, 12, tatami). Ngôi nhà ở Nhật Bản rất thoáng đãng, ít có đồ gỗ; chăn nệm, gối ban ngày được cho vào tủ tường. Các phòng được ngăn cách với nhau bằng những tấm tường “bodgi” di động được. Tường ngoài được làm bằng những khung nhẹ có nẹp dán giấy có thể di chuyển trên các rãnh khấc. Vào mùa đông, tường ngoài ngôi nhà được bổ sung thêm những tấm “amado” bằng gỗ để chống lạnh. Mái nhà có thể làm bằng ngói hoặc rơm rạ, có nơi mái được làm bằng ván gỗ nhỏ hay vỏ cây.

Nghệ thuật kiến trúc nhà ở dân gian Châu Á 1

Tatami có hai cách sắp xếp, cách thứ nhất là Syugijiki dùng cho các phòng ở thông thường (xếp so le hay đan nhau), và cách thứ nhai là Fusyugijiki dùng cho lâu đài, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc có không gian lớn (xếp song song).
Người thợ mộc Nhật Bản xây dựng ngôi nhà thường rất nhanh, có khi trù tính vật liệu xong, dựng nhà chỉ mất vài tuần. Kiến trúc gắn bó chặt với thiên nhiên, hành lang và cửa sổ rộng mở ra vườn; trong nhà những hàng cột để trần không sơn. Mỗi căn nhà có một ngăn nhỏ gọi là “Tokonama” để trang trí hoa và dùng vào một số mục đích khác, nơi đày đặt những tiểu phẩm hoa mang tên là “Ikêbana” là một trường phái trang trí hoa rất nổi tiếng thế giới.
Kiến trúc ngôi nhà ở dân gian Trung Quốc cũng mang lại cho những người quan tâm đến nghệ thuật một sự kì thú. Tuy kiến trúc nhà gỗ phát triển đến mức cực thịnh chỉ ở vào thời đại các triều Minh,-Thanh nhưng lịch sử của nó thì đã kéo dài đến hàng ngàn nãm. Tương truyền là từ năm 206 trước Công nguyên, những nông dân nổi dậy đã đốt cháy một thành phố gần Tây An, các kiến trúc gỗ cháy trong gần ba tháng mới hết. Ớ Trung Quốc, đặc điểm vùng, đặc điểm dân tộc, đặc điểm khí hậu – trong khuôn khổ một đất nước rộng lớn bao la đến như vậy – thể hiện trong ngôi nhà ở một cách rất đa dạng.
Loại nhà ở điển hình nhất của miền Bắc Trung Quốc là loại nhà ở Tứ hợp viện (kiến trúc hình thành do bao quanh một sân trong). Ở Bắc Kinh, ngôi nhà được đặt dọc theo trục Bắc – Nam, vào cửa qua một án thư sẽ đến một sân trong, những phòng ớ phía Nam này dành làm kho và để cho người phục vụ; một cái cửa thứ hai sẽ dẫn đến một sân trong phía Bắc, ở đây có các phòng ở mặt chính Bắc đê cho bố mẹ ở, còn các phòng bên phía Đông và Tây dành cho con cái. Chiếc sân trong thứ hai này được trang điểm bằng cây cối và hoa cỏ. Những nhà sang cửa sơn son và mái lợp ngói lưu ly. Các nhà hoàn cảnh không sung túc thì sơn mầu gri.
Một loại nhà đặc trưng khác của người Trung Quốc là loại nhà đào sâu vào trong đất. Hơn 40 triệu dân một số nơi ở các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Ninh Hạ, Thiểm Tây, Sơn Tây, Hà Bắc và Hà Nam sống trong những nhà đất này. Loại nhà này có thể ãn sâu vào lòng núi, một sô’ nhà khác phát triển ngang ra các phía từ một không gian lõm sâu dưới hình thức một cái “giếng”: chế độ vi khí hậu của nhà rất tốt, vừa chống được ồn vừa ấm (nhiệt độ luôn bảo đảm từ 10° đến 25°C). Mật đứng xây gạch, có cửa đi và cửa sổ kính nửa tròn, tường trong trát vữa và sơn mầu sáng. Những người dân giàu có trang bị những
tấm gương lớn phản chiếu ánh sáng vào nhà và những đường ống dẫn nhiệt mặt trời vào để thông gió, chống ẩm.
Những người Hakka ở vùng núi Tây Phúc Kiến xây những ngôi nhà bằng đất nện. Nhà hình vuông cao 2, 3 tầng, bắt đầu thế kỉ XVII đã có nhà cao tới 5, 6 tầng. Những loại nhà này trước đây đã là những loại nhà có thể chứa nhiều lương thực và những giếng nhiều nước nên có thể chống trả thổ phỉ, giặc xâm lăng trong nhiều tháng, mang tính phòng vệ rất tốt. Những quần thể nhà dân gian hình tròn có sân trong ớ Phúc Kiến cũng đã được công nhận và đưa vào danh sách các di sản văn hoá thế giới.

Nghệ thuật ngôi nhà dân gian Việt Nam tuy đã được nghiên cứu nhiều nhưng vẫn cần có những công trình nghiên cứu thống nhất và công phu hơn nữa. Hà Nội có nhà ống, Huế có nhà vườn, Quảng Nam có nhà Rường, Thái Bình có nhà hợp bổi, Vĩnh Phú có nhà lợp lá cọ, Lạng Sơn có nhà tường trình, Sơn Tây có nhà xây bằng đá ong, Tây Bắc có nhà sàn Thái đen, Thái trắng… Một cái sân trời, một bộ cửa bức bàn, một mái lá dầy 5, 60cm, một kiểu hoa vãn, một cái dại nứa chống nắng, một bếp lửa bập bùng… biết bao chất vãn hoá dân gian đáng quý chứa đựng trong đó.
Những nước châu Á hầu hết đều đã biết khai thác các thế mạnh của nghệ thuật kiến trúc nhà ở dân gian của đất nước họ, riêng ở ta có nhiều việc còn phải làm. Chẳng có một sự mâu thuẫn nào cản trở nổi sự cộng sinh giữa tương lai và quá khứ, hiểu được như vậy thì mới thực sự làm được những việc có ích về mặt nghệ thuật kiến trúc dân gian.