Nền văn hóa Nhật Bản

Nhật Bán là một quần đảo nằm ở phía Đông Bắc châu Á, trong đó có 4 hòn đảo lớn nhất là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu. Dàn sô’ Nhật Bản vào thời Phục hưng Minh Trị (1868) là 33 triệu người, đến năm 1990 lên đến 123.612.000 người và nãm 2000 lên đến 126.434.470 người. Mật độ dân số Nhật Bán rất cao, 327 người/km2.
Cách phàn chia biên niên sử Nhật Bán có thế được khái quát như sau:
– Thời Tiền sử, từ thiên niên kỷ XI trước Công nguyên đến thế kỷ thứ VI sau Công nguyên.
– Thời đại Asuka và Nara (552 – 794)
-Thời đại Heian (794- 1185)
– Thời đại Kamakura và Muromachi (1185 – 1573)
– Thời đại Azuchi – Momoyama và Edo (1576 – 1868)
– Thời Cận hiện đại, từ sau 1868, có một số sách Lịch sử kiến trúc xem 1985 trớ đi là thời kì Đương đại.
Lịch sử Phật giáo Nhật Bản có những khuynh hướng đặc trưng sau đây:
(1) Coi trọng các thể chế nhân văn.
(2) Định hướng biểu tượng, không duy lý.
(3) Chấp nhận thế giới hiện tượng.
(4) Sẵn sàng điểu tiết thích nghi với thông lệ pháp sư cổ đại và Thần đạo.
(5) Phát triển giới lãnh đạo thế tục.
Cũng theo Eiichi Aoki (sách đã dẫn), Nhật Bản là quốc gia Phật giáo, hơn 85% dân số theo đạo Phật, hiện nay có 75.000 ngôi chùa.

Phật giáo Nhật Bản bộc lộ những khuynh hướng đặc trưng sau đây:
(1) Nhấn mạnh tầm quan trọng của các thể chế nhân vãn.
(2) Định hướng biểu tượng, không duy lý
(3) Chấp nhận thế giới hiện tượng.
(4) Sẵn sàng điều tiết thích nghi với thông lệ pháp sư cổ đại và Thần đạo.
(5) Phát triển giới lãnh đạo thế tục.
85% dân số Nhật Bản theo đạo Phật, đất nước Mặt trời mọc có 75.000 chùa và 200.000 nhà sư.

Nghệ thuật Nhật Bản qua các thời đại chịu ảnh hưởng sâu sắc của xã hội, chính trị, kinh tế, khí hậu, cho nên đề tài cây cối và hoa cỏ là đề tài luôn luôn lập đi lặp lại. Điều đó thể hiện lòng yêu thiên nhiên và thích sử dụng vật liệu thô mộc của người Nhật Bản. Những yếu tô’ tiêu cực của khí hậu như động đất, gió bão khiến cho người Nhật phải chọn các vật liệu xây dựng một cách tinh tế hoạt động một cách tinh tế.
Phật giáo là phương tiện hữu hiệu để bảo vệ giai tầng thống trị nên nó trở thành Quốc giáo. Chùa và tu viện ít nhất có 7 thành phần: chùa (to), sảnh chính (kondo, kim đường), sảnh thuyết pháp (kodo), kyozo hay kho kinh. Từ thế kỷ thứ VI hoặc thế kỷ thứ VII nhiều chùa đã được xây dựng ở. Kyoto và Osaka, như Asukadera, Shitenoji và Horiuji. Tiếp đến, Nara được quyết định làm kinh đô năm 710, trong khoảng năm 710 đến 794 đã xây dựng nhiều chùa lớn như Kofukuji, Daianji và Yakushiji.

Nền văn hóa Nhật Bản 1

Chế độ phong kiến Nhật Bản bắt đầu từ thế kỷ XII được đánh dấu bằng một thời kỳ lớn là thời kỳ Kamakura (Liêm Thương, 1185 – 1333), nối tiếp sau đó là 2 thời kỳ Muromachi hay là Ashikaga (Thất Đính, 1336 – 1573) và thời kỳ Azuchi – Momoyama (An Thổ – Đào Sơn) (1573 – 1598).
Hai tầng lớp có ảnh hưởng đến phát triển văn hoá thời kỳ Kamakura là tầng lớp võ sĩ và tầng lớp quý tộc, giới võ sĩ chịu ảnh hưởng của nếp sống vãn hoá xa hoa của tầng lóp quý tộc mặc dù bị cấm đoán.
Kamakura từ một thành phố nhỏ sau khi trở thành trung tâm của đất nước đã thu hút các nghệ sĩ và nghệ nhân về đây để sáng lạo. Đặc điểm văn hoá của thời kỳ Kamakura là:
– Nếp sống của giới võ sĩ và giới quý tộc ảnh hưởng lẫn nhau.
– Có sự xuất hiện của những dòng văn hoá mới và có sự giao lưu văn hoá giữa các vùng văn hoá.
– Văn hoá Kamakura chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Phật giáo và các giáo phái mới đều thể hiện sự đại chúng hoá của Phật giáo.
Các giáo phái Phật giáo mới có thể ra là: Hokke (Pháp Hoa), Jodo (Tịnh độ), Jodo Shinshu (Tịnh độ Chân tông) và Nichiren (Nhật Liên).
Trong khi giáo phái Tịnh độ Chân tông chủ trương khoan hoà và bao dung thì giáo phái Nhật Liên lại cực đoan và hẹp hòi.
Sự phát triển của Zen (Thiển) cũng rất đáng ghi nhận trong thời kỳ Kamakura. Thiền được đưa vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ VII nhưng đến thế kỷ XI mới trở nên một giáo phái mạnh ở Nhật Bản. Thiển đã được phái Võ sĩ và chính quyền tán tưởng và trở thành một quyền lực xã hội.
Thiển không trừu tượng, không viện dẫn kinh sách mà chủ trương tư duy trực giác, Thiền chủ trương một cuộc sống giản dị, thiên về hành động, coi trọng sự rèn luyện ý chí và quyết tâm của mỗi cá nhân. Thiền coi trọng thiên nhiên, tự nhiên nên phù hợp với lối sống của võ sĩ. Ảnh hưởng của Thiền vượt ra khỏi khuôn khổ của giới võ sĩ và phát huy ra toàn xã hội.
Nếu trước kia, các giáo phái Phật giáo chỉ ảnh hưởng đến các tầng lớp chính quyển thì đến thời kỳ kamakura chúng đã ảnh hưởng đến các tầng lớp binh dân, đã đại chúng hoá.
Văn hoá thời kỳ này đặc tả chiến tranh và thảm hoạ, được viết với một cách nhìn bị luỵ và thâm trầm. Quyển Truyện kể Heike (Bình gia Vật Ngữ) (1223) là tác phẩm tiêu biểu của văn học cổ Nhật Bản, giá trị của nó thể hiện ở chỗ đã minh hoạ một cách đúng đắn hiện thực cuộc sống và xã hội Nhật Bản đương thời.
Hội hoạ thời kỳ Kamakura mang đậm tư tưởng Phật giáo, bao gồm 3 loại chính là tranh Phật giáo, tranh chân dung và tranh cuộn. Tranh cuộn được ưa thích vì tính hiện thực của nó, tranh cuộn có các chủ để lịch sử, huyển thoại, tôn giáo và đời sống của các vị cao tăng.
Bộ tranh Chuyên hiển linh ở điện Kasuga gồm 20 bức, Truyện Heiji gồm 3 bức và những bức tranh chân dung Yoritomo và Daito Kokushi (Đại thống quốc sư) là những tác phẩm hội hoạ tiêu biểu của thời kỳ Kamakura còn giữ lại được. Bức Thác Nachi do một nhà sư vẽ thế kỷ XIII là một cách nhìn thiên nhiên như một vũ trụ thu nhỏ cũng là một kiệt tác mà những thời đại sau còn kính nể mãi mãi.
Đến thời kỳ Muromachi (1336 – 1573), là thời kỳ không ổn định về mặt chính trị, luôn luôn xảy ra tranh chấp, nhưng đời sống văn hoá lại có những hứng khởi mới. Kiến trúc, nghệ thuật bị phá huỷ bởi chiến tranh nhưng cũng có nhiều yếu tố văn hoá mới được ra đời. Văn hoá thời kỳ Muromachi đáng được đánh giá cao vể độc đáo và năng động. Kinkakuji (Kim Các tự) và Ginkakuji (Ngân Các tự) được xây dựng vào thời kỳ này.
Sự xuất hiện tầng lớp giàu có và có quyển lực đã làm cho văn hoá Nhật Bản thời kỳ này trở nên sống động, tư tưởng tôn giáo Phật giáo đã là nền tảng của một nền văn hoá mới. Thiền tông tiếp tục được đề cao. Song song với Thiền tông, Thiển đạo cũng vẫn tiếp tục được phát triển vì vừa thờ các vị thần bản địa tự nhiên vừa tiếp nhận các ảnh hưởng của Phật giáo.
Văn học, triết học, lịch sử thời kỳ Muromachi bắt đầu tách khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc. Loại thơ renga (liên ca) ra đời và được tôn trọng.
Hội hoạ Nhật Bản thời Muromachi chịu ảnh hưởng của Phật giáo, học tập kiêu vẽ tranh thuỷ mặc của Trung Quốc và làm cho nó phát triển mạnh mẽ. Tâm hồn và tính cách con người Nhật Bản được đưa vào trong tranh, việc sao chép hội hoạ Trung Quốc bị loại bỏ.
Loại kịch Noh (Năng) cũng ra đời vào thời kỳ này với các chủ đề huyền thoại và lịch sủ. Kịch Nolỉ được quần chúng đón nhận một cách nồng nhiệt.
Trong thời kỳ Muromachi, những thành tựu vãn hoá cũng được thể hiện trong ba lĩnh vực nghệ thuật sau đây: nghệ thuật cắm hoa ụkebana), nghệ thuật làm vườn cảnh (teien) và nghệ thuật trà đạo (sado).
Những vườn cảnh Nhật Bản sử dụng cây cỏ, đá và nước như những yếu tố cơ bản đê tạo nên một không gian thanh bình, êm ả rất giàu tính nhán văn.
Nghệ thuật Nhật Bản thời kỳ này đã thể hiện được mong muốn của con người là gắn bó với thiên nhiên.
Những thành tựu tiếp theo về văn hoá của thời kỳ Azuchi Momoyama – Edo (1576 – 1868) lại tập trung ở thời kỳ Edo là chính vì giai đoạn đầu, đất nước lâm vào một thời kỳ gọi là chiến quốc, chiến tranh liên miên.
Thời kỳ Edo là thời kỳ đỉnh điểm của xã hội phong kiến (1600 – 1868), nên giáo dục, vãn hoá và tư tưởng có những bước đột phá mới. Việc học tập trong các cơ sở giáo dục được coi trọng.
Việc cai trị đất nước được gắn với việc đề cao Nho học và dựa trên học thuyết của Chu Hy (1130 – 1200). Bộ biên niên sử Bản triều thông giám (Honcho Tsugan) gồm 300 cuốn (1671) và bộ sách Kami Keiiu ghi lại lai lịch của các dòng họ lớn ỏ Nhật Bản (1643) được xuất bản. Nhiều bộ sách tôn vinh giá trị truyền thống khác cũng thê hiện trong nhiều bộ sách lịch sử. Sự nghiệp giáo dục cũng phát triển và đến cuối thời Edo đã có 11.302 trường học Nhật Bản đã ý thức được sức mạnh kinh tế và văn hoá phương Tây cho nên khuyến khích các giai tầng tiếp cận nền văn minh phương Tây.
Những sự kiện văn hoá thời Edo bao gồm việc nghiên cứu Quốc học, cổ học, Nho học và Sử học.
Nho học coi trọng đạo lý, đạo nghĩa, được tầng lớp võ sĩ đạo đánh giá cao.
Thời Edo, tầng lớp bình dân được đóng góp vào văn hoá Nhật Bản những yếu tố mới, văn hoá đó còn được gọi là văn hoá thị dân. Trong khi nền văn hoá của giai tầng thống trị được dùng để phục vụ cho cuộc sống xa hoa của giai tầng mình thì nền văn hoá thị dân cũng có những chuẩn mực riêng.
Văn hoá thị dân (Chonin bunka: đinh nhân văn hoá) là văn hoá của thị dân, nghệ sĩ và kỹ nữ.
Nền văn hoá này chống lại nền văn hoá của võ sĩ đạo, linh hồn của nó thâm tóm trong một thuật ngữ là Ukiyo (Phù thế), có thể hiểu là phù sinh, vô thường, âu sầu, trôi nổi theo các thời gian khác nhau.
Hội hoạ thời Edo rất nổi tiếng, nó bao gồm nhiều trường phái như Kano, phái Tasa và phái Sumiyoshi (vẽ theo kiểu truyền thống), trong khi đó còn có phái Ukiyo lại rất mới mẻ, đa dạng (vẽ về cuộc sống, hoa lá, cảnh vật).
Ba hoạ sĩ nổi tiếng nhất của hoạ phái Ukiyo là: Utamaro Kitagawa (1754 – 1806), Hiroshige Ando (1797 – 1858) và Hokukai Katshushika (1806 – 1849). Các hoạ sĩ này lần lượt nổi tiếng với những bức danh hoạ về phụ nữ (Utamaro), phong cảnh Tokaido (Hiroshige) và phong cảnh núi Phú Sĩ (Hokukai).
Triết lý sống ưkiyo (phù thế) được giới võ sĩ đạo cũng như tầng lớp bình dân tiếp nhận vì nó nhấn mạnh tính chất phù du của cuộc đời phiêu dạt.
Sau thời kỳ Edo, bắt đầu từ 1868 Nhật Bản bước sang một thời kỳ lớn của lịch sử Cận đại là thời kỳ Minh Trị Duy tân.
Edo lúc r.ày mang tên mới là Tokyo, việc thu hút các thành tựu giáo dục, y học, pháp luật của Anh, Mỹ, Đức, Pháp. Đất nước có nhiều năng lượng như bị dồn nén vào các thế kỷ trước đến thời kỳ này như được bùng nổ.
Những thành tựu về giáo dục đã làm cho đất nước khởi sắc: xây dựng nền giáo dục theo mô hình phương Tây, tỉ lệ người dân biết chữ cao, thành lập 8 khu đại học, mỗi khu đại học bao gồm 32 khu trung học, mỗi khu trung học có 210 trường tiểu học, gửi thanh niên ra nước ngoài học tập, mời các chuyên gia ngoại quốc sang bản quốc giảng dạy, thành lập nhiều nhà xuất bản và cho ra đời nhiều báo và tạp chí.
Việc coi trọng Thần đạo (Shinto) được coi là hiện tượng đáng chú ý của thời kỳ đầu thời Minh Trị. Chính vì vậy, việc xây dựng đển thờ thời kỳ này được coi trọng hơn là chùa, hiện tượng này đến nãm 1872 thì bị đình chỉ, Phật giáo lại được coi trọng.
Xây dựng đô thị là lĩnh vực thay đổi trước tiên. Những toà kiến trúc xây dựng theo kiểu phương Tây, ví dụ như toà nhà Ngân hàng Tokyo khánh thành năm 1874. Kiến trúc phương Tầy ngày càng được ưa chuông.
Cách ăn mặc Âu phục, cách để tóc ngắn với nam giới nói riêng và phong cách sống nói chung thê hiện rõ nét việc học tập phương Tây.
Việc dan xen văn hoá thể hiện rõ rệt trong hội hoạ, có 2 cách vẽ cùng song song tồn tại là cách vẽ theo kiểu phương Tây Yoga (Dương hoạ) và cách vẽ theo kiểu Nhật Bản Nihonga (Nhật Bản hoạ).
Nhà phê bình mĩ thuật Ernest Fenollosa đến Nhật giảng dạy tại Trường đại học Tokyo nãm 1878 đã khuyến khích người Nhật đánh giá lại truyền thống hội hoạ của mình. Hoạ sĩ Nhật Eản nổi tiếng trong phong trào phục hồi truyền thống này là Okakura Tenshin (1862 – 1913), ông đã có nhiều hoạ sĩ khác là môn đệ cùng hoạt động.
Một trong những hoạ sĩ Nihonga nổi tiếng khác là Higasshiyama Kaii (sinh năm 1908) đã đem đến cho hội hoạ Nhật Bản một tầm vóc mới.
Tuy vậy, nhiệt tình với hội hoạ phương Tây cũng là đặc điểm văn hoá nổi trội của thời đại Minh Trị duy tân.
Về vãn học, từ thập niên 80 thế kỷ XIX, ảnh hưởng của văn học phương Tây tràn vào Nhật Bản, người Nhật được tiếp xúc với các tác phẩm vãn học như Robinson Crusoe và các tác phẩm kịch của Schiller và Shakespeare.
Hai nhà văn lớn nhất thời kỳ Minh Trị duy tân là Mori Ogai (Sâm Âu Ngoại, 1862 – 1922) và Natsume Soseki (Hà Mục Thiếu Thạch, 1867 – 1916). Nhưng trước hai nhà văn lớn này, phải kể đến vai trò khai sinh văn học hiện đại Nhật Bản của Futabatei Shimei với cuốn tiểu thuyết “Ukigumo” (Phù vân) xuất bản nãm 1887.
Tiếp theo, từ năm 1926, Nhật Bản vào thời đại Showa và kỷ nguyên này được thay thế bằng kỷ nguyên Heisei nãm 1989. Trừ những năm chiến tranh, văn hoá Nhật Bản phát triển với tốc độ chóng mặt, vì bản sắc dân tộc của người Nhật mạnh mẽ, nên khi nền văn hoá phương Tây ùa vào, hai nền văn hoá này nhìn chung vẫn cộng sinh một cách hài hoà, tuy có một sô’ giá trị nhất định bị đảo lộn.