Văn hóa Việt Nam trở thành đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội từ đầu thế kỷ XX. Để phục vụ cho quá trình thuộc địa hóa, người Pháp thấy cần phải tìm hiểu và nghiên cứu nền văn hóa bản địa. Trong bối cảnh đó, các nghiên cứu chuyên sâu và có tính hệ thống về đặc điểm của văn hóa việt nam được hình thành với sự đóng góp của các học giả Việt Nam và học giả Pháp. Ở phần này chỉ xin điểm qua một vài tác phẩm đáng chú ý.
Vào thời gian đầu, nổi bật nhất trong số đó là cuốn Việt Nam văn hóa sử cương (1938) của GS Đào Duy Anh. Trong tác phẩm của mình, dựa trên lý thuyết về mối liên hệ cấu trúc giữa kinh tế, xã hội và tri thức của Felix Sartiaux, GS. Đào Duy Anh đặt nền móng các nghiên cứu vế văn hóa Việt Nam trên quan điểm cộng đồng vãn hóa dân tộc mang tính phổ quát chung của một quốc gia. Ông sử dụng kết hợp các tư liệu về xã hội học, dân tộc học để xây dựng một bức tranh toàn cảnh vể văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, vãn hóa tinh thần của người Việt dựa trên các yếu tô thành phần như văn hóa gia đình, vãn hóa làng xã, văn hóa đô thị, văn hóa quốc gia. Ông bắt đầu từ nguồn gốc văn hóa với các điều kiện địa lý của đất nước. Theo đó cơ sở của văn hóa Việt là văn hóa nông nghiệp với chủ thê văn hóa là những người nông dân. Nhận xét đặc điểm đầu tiên của văn hóa Việt là xã hội lấy gia tộc làm cơ sở, dựa trên mối quan hệ tình cảm mà đối đãi. “Nhất thiết các luân lý đạo đức, chế độ vãn vật, chính trị pháp luật đểu lấy gia tộc chủ nghĩa làm gốc” (Đào Duy Anh 2003, trang 382). Từ đó khiến cho người Việt chuông hòa bình, thích an cư lạc nghiệp, xã hội trọng văn chứ không trọng võ.

Một vài nghiên cúu điển hình về văn hóa Việt Nam 1

Năm 1939, giáo sư Nguyễn Vãn Huyên cho ra đời cuốn Văn minh Việt Nam được đánh giá như một công trình tổng hợp vể vãn hóa vật chất cũng như tinh thần của người Việt. Ông nghiên cứu cấu trúc của xã hội Việt Nam trên các thành phần cấu trúc như Nhà – Làng – Nước. Tác phẩm đã khắc họa dược cái cốt lõi của văn hóa Việt, đặc biệt ở mảng xã hội học văn hóa (Hồ Liên 2008). Năm 1943, bản Đề cương văn hóa Việt Nam của tổng bĩ thư Trường Chinh đã khái quát toàn bộ quá trình phát triển của văn hóa Việt.
Lần đầu tiên trong lịch sử, bản Đề cương đã “phân tích lịch sử vãn hóa Việt Nam theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử” (Nguyễn Duy Quý 2000, trang 14).
Trong giai đoạn 1954 đến 1975, một loạt các tác phẩm nghiên cứu về phong tục, tập quán được tiến hành ở cả hai miền Nam Bắc. Ở miền Bắc, các tăc phẩm tập trung chủ yếu ở khía cạnh nghiên cứu văn học và sử học. Ớ miền Nam các tác phẩm lại chú ý tập trung vào các vấn đề chung của văn hóa Việt Nam. Trong sô’ đó đáng chú ý là các tác phẩm của Kim Định như Nguồn gốc văn hóa Việt Nam (1 973) hay Cư cấu Việt Nho (1973).
Thời gian gần đây có một số các tác phẩm đưa ra một cái nhìn tổng quát về văn hóa Việt. Đáng chú ý có cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1995) của tác giả Trần Ngọc Thêm. Tác giả nghiên cứu các đặc điểm của vãn hóa Việt Nam dựa trên cách tiếp cận hệ thống cấu trúc của văn hóa Việt Nam qua các đặc điếm địa lý, khí hậu, lịch sử. Từ đó chỉ rõ: “Những hiện tượng tưởng chừng như đa dạng và phong phú vô hạn trong các lĩnh vực của vãn hóa Việt Nam xưa và nay thực ra đều chỉ là nhưng biểu hiện khác nhau của một số lượng hữu hạn các đặc trưng bản sắc của nền vãn hóa này” (Trần Ngọc Thêm 2001, trang 575).
Tất cả được xuất phát từ 3 yếu tố cơ bản:
1. Xứ nóng, nắng
2. Nhiều mưa và sông nước.
3. Là giao điểm của các nền văn minh.
Theo đó, nền tảng cơ bản của văn hóa Việt Nam khởi phát từ nền văn minh gốc nông nghiệp, trọng âm, trọng tĩnh. Cuộc sống dựa trên phương thức sản xuất trồng lúa nước, gắn chặt với điều kiện tự nhiên, môi trường. Từ đó hình thành đặc điểm tôn trọng, thậm chí e ngại, sợ sệt trước thiên nhiên. Đó là đặc điểm của một lối sống “phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, ở cố định một chỗ với cái nhà, cái cây của mình nên có ý thức tôn trọng, không dám ganh đua với thiên nhiên […]. Người Việt Nam mở miệng là nói “lạy trời” “ơn trời” (Trần Ngọc Thêm 2001, trang 39).  Luận điểm lớn nhất của ông là học thuyết Âm dương – Ngũ hành là sán phám của nển vãn minh nông nghiệp cổ đại được thể hiện ớ phần Văn hóa Nhận thức của người Việt. Đó là một hệ thông tư duy về vũ trụ (thuyết Âm dương, Ngũ hành), tư duy về con người và cũng như mối quan hệ cân bầng giữa các yếu tô tự nhiên và yếu tô con người (thuyết Tam tài). Đáy được xem như các học thuyết cơ bản tạo dựng nên bản sắc vãn hóa người Việt. Tác giả cho rằng hệ thông triết lý Âm dương, Tam tài, Ngũ hành là sản phấm của nền vãn minh nông nghiệp phương Nam đối lập với hệ thông triết lý Lưỡng nghi, Tứ tượng, Bát quái cúa nền văn minh du mục phương Bắc. Được viết tỉ mi công phu với nhiều dản chứng và giả thuyết mới, tuy một tác phẩm về khoa học xã hội nhưng được tác giả thê hiện gãy gọn. Mặc dù còn có những nhận xét khác biệt nhưng tác phấm này đã gây được một tiếng vang lớn trong dư luận.
Cuốn Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việi Nam (1996) cúa nhiểu tác giá cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quát về các khái niệm cơ bản của vãn hóa học tiến trình phát triển của vãn hóa Việt Nam theo chiều dài lịch sử và các vùng vãn hóa Việt Nam. Tuy nhiên chính các tác giả lại không thế hiện rõ ràng được khái niệm vãn hóa Việt Nam là gì mà thiên vể sử học và vãn học hơn (Hồ Liên 2008). Cuốn Vãn hóa Việt Nam – tìm tòi và suy ngẩm (2003) của giáo sư Trần Quốc Vượng cho ta một cái nhìn sâu hơn về văn hóa Việt Nam. Tác phấm được dựa trên quan điểm của tác giả về Địa – văn hóa (Géo-culture) và Địa – Lịch sử (Géo-history). Theo đó, tác giả định nghĩa:
“Văn hóa trước hết là một sự trả lời, một sự ứng phó của một cộng đồng cư dán, trước những thách thức cùa điều kiện địa lý – khí hậu (Géo-climatique) sau đó là sự trả lời ứng phó trước những thách thức của điểu kiện xã hội – lịch sử” (Trần Quốc Vượng 2003, trang 65).
Trong quan điểm đó, nhìn từ tổng quát, vãn hóa Việt Nam được tiếp cận trong bôi cảnh địa lý khu vực Đông Nam Á, với sản phẩm đặc trưng là nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Ồng nhận xét “Tuy nhận nhiều ảnh hường vãn hóa – chính trị Trung Hoa Đông Á, song vẫn luôn luôn duy trì nền tảng vãn hóa môi cảnh địa chất nhân vãn Đông Nam Á của chính mình” (Trần Quốc Vượng 2003, trang 16). Ông đưa ra bức tranh tổng quát của văn hóa Việt Nam như một hệ thống mớ, có khả năng ứng biến và thu nhận cao với các tác động địa lý, xã hội. Từ đó, ông khảo cứu sâu vào các đặc điểm như lễ hội vãn hóa dân gian, nhu cầu văn hóa thẩm mỹ, các phép tắc hành xử của con người với xã hội cho đến cá nhân vãn hóa nổi bật của Việt Nam.