• Chùa Kim Liên
Chùa Kim Liên nằm ở phía Bắc Hồ Tây, thuộc khu vực Quảng An, quận Tây Hồ, có nguồn gốc lâu đời từ các đời Lý, Trần Lê. Tên chùa Kim Liên (Bông sen vàng) được đặt chính thức từ nãm 1771, khi chùa được trùng tu. Tuy vậy, việc xây dựng lớn được tiến hành vào đời Tây Son, nãm 1792 và gần đây nhất, vào những năm 1980, vì qua mấy thế kỷ, chùa đã hư hỏng, xuống cấp rất nhiều.
Cho dù khu vực đặt chùa Kim Liên trước đây là một vùng hổ nước mênh mang, có bị ảnh hưởng ít nhiều bới quá trình đô thị hoá, ngôi chùa vẫn là một viên ngọc quý trong di sản kiến trúc Hà Nội.
Đến thăm chùa Kim Liên, đối tượng mà ta gặp đầu tiên là chiếc cổng Tam quan, một loại hình kiến trúc gỗ độc đáo, mà hệ mái của nó cho ta cảm giác như đang bay lên, bay lên.
Các đơn thể kiến trúc chùa bố trí theo kiểu nhấn mạnh trục dọc, “tam toà”. Đó là 3 toà nhà xếp song song theo kiểu chữ tam, lần lượt là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng.
Có thể nói chùa Kim Liên có “môtíp” bố cục cùng kiểu với chùa Tây Phương, cũng cách bố cục mặt bằng, cách cấu tạo mái và cả triết lý, tư duy của nhà Phật cũng tương tự. Ánh sáng nội thất được lọc qua ba đơn thể kiến trúc đặt gần nhau tạo nên một hiệu quả khi mờ khi tỏ, chất cảm của gạch trần gây cảm giác mộc mạc, mái ngói chồng diêm giàu cảm giác động thái. Trong chùa, có đặt nhiều pho tượng khác nhau về chủ đề: tượng Chúa Trịnh, tượng Văn Trù, Xá Lợi, tượng Tôn Ngộ Không…
Chùa Kim Liên, về bố cục, kiểu dáng kiến trúc, có thể nói là “một cặp anh em song sinh” với chùa Tây Phương, nhưng về vị trí, cảnh quan, nó đặt ngay gần khu Trung tâm Ba Đình của Hà Nội, nên tiếp cận với nó thuận tiện, gần gũi hơn, người Hà Nội thường tìm đến đây để sống những giây lát êm đềm và “thoát tục”.
• Chùa Một cột
Chùa Một cột là một công trình kiến trúc độc đáo của Hà Nội và của Việt Nam. Cho đến nay, nó vẫn là một trong những hình ảnh tượng trưng cho Hà Nội. Mang hình dáng một toà sen đang nở trên mặt nước, ngôi chùa này là kết quả của sự thể nghiệm tìm tòi để dựng lại giấc mơ của nhà vua Lý Thái Tôn gặp gỡ với Đức Phật Quan Âm.
Kiến trúc ngôi chùa đặt hoàn toàn trên một cột đá lớn, phần trên cột đá có mộng để đưa ra tám hệ công xôn kép. Mỗi hệ công xôn này bao gồm hai thanh dầm công xôn ngang và một thanh dầm công xôn chéo được liên kết mộng vào một giằng đứng.
Chi tiết cột và lan can phía trên mảnh nhẹ và đơn giản. Mặt bằng vuông, đối xứng nên mái cũng vuông, nhưng hình thức mái lại không đối xứng mà mái chính lớn hơn, có hướng Nam – Bắc.
Năm 1105, chùa được sửa lại và phần kiến trúc xung quanh hồ, hành lang, V. V… được xây dựng thêm.
Chùa Một Cột ban đầu có kích thước rất lớn. Công trình ngày nay được xây dựng lại, có kích thước lớn khiêm tốn hơn. Cột đá có đường kính 1,25 mét, cao 4 mét chưa kể phần móng, kích thước mặt bằng ngôi chùa phía trên 3×3 mét.
Chùa Một Cột có giá trị thẩm mỹ ở chỗ gắn bó với thiên nhiên, mặt nước, cây cỏ xung quanh nó. Trong bài thơ Vịnh chùa Diên Hựu (Một Cột) của Huyền Quang đã nói rõ cảm xúc với kiến trúc, cảnh sắc của chùa:
Gian chùa đêm thu một tiếng chuông ngân Trăng như sóng nước, lá bàng đỏ thắm Chim muông co ro ngủ, in mặt gương trong lạnh lẽo Đôi tháp song song, ngọn sáng ánh lên như ngọc thạch.

Một số công trình kiến trúc tiêu biểu của Hà Nội và vùng phụ cận 1

• Chùa Bút Tháp
Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh) xây dựng năm 1646 – 1647 đời Hậu Lê và theo sử chép có nguồn gốc sớm hơn nữa.
Chùa Bút Tháp có tên chữ là chùa Ninh Phúc, có một hệ thống không gian phát triển theo trục dọc, với nhiều toà kiến trúc, tháp và bia đá. Quần thể kiến trúc chùa như một ốc đảo dài điểm xuyết cây xanh, nổi bật trên một cánh đồng sóng lúa mênh mông, đã được bố cục theo một quy luật trật tự nghiêm khắc nhất. Vào chùa, khách hành hương phải lần lượt trải qua Tam quan, Gác chuông, Tiền đường, Thiên Hương, Thượng Điện, toà Cửu Phẩm, nhà Trung, Phủ thờ, nhà Tổ… và còn cả dẫy hành lang hai bên. Chi có những toà tháp, trong đó có tháp Báo Nghiên (tháp Bút) bằng đá, là được sấp đặt tương đối tự do, tướng như không ở trong vòng quy luật của bô cục mặt bằng.
Tháp Báo Nghiên cao 13,05 mét, năm tầng với một phần đỉnh, xây bằng đá xanh, ngoài tầng đáy rộng hơn, bốn tầng trên gần giống nhau, rộng 2 mét. Riêng ở tầng trệt của toà tháp này có 13 bức chạm đá lấy đề tài động vật là chính.
Kiến trúc chùa dùng khung gỗ chịu lực, nhưng nển, bệ, lan can dùng đá là chính. Hình khắc đá ở đây chủ yếu là động vật, có điểm xuyết thêm mây trời, hoa lá… tất cả đểu rất sinh động.
Trong chùa, tượng gỗ Quan Âm nghìn mắt nghìn tay của nhà điêu khắc họ Trương hoàn thành vào năm 1656 là tác phẩm tiêu biểu của nén điêu khắc Việt Nam ba trăm năm trước. Hai tác phẩm điêu khắc khác cũng không kém phần nổi tiếng là tượng Tây Thiên Đông đô Việt Nam lịch Đại tổ và tượng Thị Kính. Một cảm giác êm đếm và mát mẻ đã thấm đượm vào tâm hồn khách tham quan khi đi qua các toà ngang dãy dọc của quần thế kiến trúc này.
• Chùa Tây Phương
Chùa Tây Phương xây dựng trên núi Câu Lâu, thuộc xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, cách Hà Nội 37km về hướng Tây, là một tác phẩm kiến trúc tiêu biểu mang đậm màu sắc Việt Nam.
Chùa có lịch sử làu đời, nhưng năm 1794 là nãm xây dựng lại hoàn toàn mới, nên niên đại ra đời chính thức tính vào thời điểm đó.
Chùa Tây Phương còn có tên gốc là Sùng Phúc tự và Hoành Sơn Thiếu Làm tự. Chùa đặt trên đỉnh núi cao 50 mét, muốn lên đến cổng chùa phải vượt 239 bậc đá ong. Chùa có ba toà nhà chính đặt song song với nhau, hình thành một nhịp điệu. Toà Bái đường phía trước và toà Hậu cung phía sau có chiều dài lớn hơn, với năm bước nhà, nhưng lại có chiều ngang, với nhịp nhà bé hơn toà chính điện ở giữa. Nhịp điệu kiến trúc do 3 đơn thể này hình thành tạo nên một sự vận động nội tại mạnh mẽ.
Nhà xây kiểu chồng diêm, hai tầng tám mái, khung gỗ chịu lực, tường ngoài xây gạch Bát Tràng, tạo thành một không khí rất thô mộc. Những chi tiết kiến trúc, trước hết là những đầu đao, giàu khả nãng khái quát và sức truyền cảm. Những đầu mái cong này, như bay bổng trong không trung, còn gọi là “những đoá hoa đao đình”. Các vì, xà, diềm mái chạm khắc chim muông, hoa lá, triện cuốn đặc biệt công phu, các cửa sổ tròn thể hiện quan điểm triết học của nhà Phật là “bán âm bán dương”, “sắc sắc không không”. Hệ thống cửa gỗ lấy ánh sáng ớ đây đã tạo được một khung cảnh thoát tục, mơ màng cho nội thất.
Các pho tượng nổi tiếng ở đây là một bộ phận hữu cơ của ngôi chùa, hiện nay chùa còn lại 64 pho tượng, trong đó quan trọng nhất là các pho tượng La Hầu La, Tuyết Sơn, các vị La Hán, v.v…
Chùa Tây Phương là một bức thông điệp khá đầy đủ về kỹ nãng và điều kiện xây dựng, quan niệm sống của xã hội Việt Nam, con người Việt Nam vào thời điểm cách đây 200 nãm.