Một trong những đặc trưng cơ bản của kiến trúc Nhật Bản là sự biểu hiện của sự hoà nhập giữa con người và thiên nhiên, Ganguin đã từng nhận xét là con người Nhật Bản sống trong thiên nhiên cũng như là trong hoa.
Sự liên kết giữa con người và thiên nhiên thể hiện trong kiến trúc – theo Olivier Marc – được đào luyện từ ảnh hưởng của Thần đạo từ thời tiền sử cho đến thế kỷ thứ VI sau Công nguyên, là thời điểm du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản.
Phật giáo và Thần đạo tiếp tục phát triển song song, ẩn chứa những bí mật trong tâm hồn của những người Nhật.
Kiến trúc Nhật Bản không bao giờ để mất tỉ xích (mối liên hệ với con người). Kiến trúc truyền thống Nhật Bản đẹp, hài hoà, cân bằng và nhất là nó cũng khiêm tốn như con người bản địa vậy. Thiên nhiên là hình mẫu tối thượng và nó được tôn trọng trong cả việc sử dụng vật liệu.
Một đặc điểm nổi trội khác của kiến trúc truyền thống Nhật Bản là các tác phẩm kiến trúc hầu như đều do những người thợ mộc làm ra. Vật liệu xây dựng chỉ là gỗ, tre, rơm, rạ, đất. Chỉ có tầng lớp quý tộc về sau này mới dùng ngói để lợp mái ngôi nhà của mình. Còn những công trình tôn giáo, những người thợ mộc cũng lợp loại ngói làm bằng gỗ đan xen nhau.

Lược khảo quá trình phát triển kiến trúc Nhật Bản 1

Để tôn trọng cái đẹp và giá trị thẩm mĩ, tính biểu tượng của các nhà, người Nhật rất quan tâm đến tầm quan trọng của hình thức của các mái nhà. Những mô hình kiến trúc bằng đất nặn tìm thấy trong các di chỉ tiền sử cho thấy người thợ mộc Nhật Bản xưa kia là những người hết sức tài nãng.
Con người tiền sử Nhật Bản sống trong những cái lều tròn mà bộ khung gồm nhiều súc gỗ cấy vào mặt đất và chụm nhau ở ngọn, mái nhà lợp bằng sậy thả xuống đến đất. Điểm kết thúc của mái được làm để tạo thành hình chữ X.
Hình thức kết cấu mái này về sau được bảo tồn trong hình thức mái những ngôi đền Thần đạo Ise.
Rất nhiều kiến trúc nông trại ở vùng Kyoto sau này còn “mang” những mái kiểu này.
Vào thời kỳ Asuka (552 – 645), dưới ảnh hưởng của văn hoá kiến trúc nhà Đường, Trung Quốc, người Nhật đã xây dựng rất nhiều chùa thờ Phật. Tác phẩm kiến trúc nổi bật nhất thời kỳ này là chùa Horiuji (Pháp Long tự). Công trình này kết hợp hoàn hảo giữa kiến trúc, điêu khắc và hội hoạ. Hình mẫu kiến trúc của Horiuji còn được mô phỏng trong việc xây dựng đền chùa nhiều thế kỷ sau, nó được tiếp tục tồn giữ và phát triển qua nhiều thời đại.
Đến thời kỳ Kamakura (thế kỷ XII – XIII) nghệ thuật kiến trúc gắn bó bền vững với triết lý Thiền (Zen). Ảnh hưởng này còn thể hiện trong tất cả các loại hình nghệ thuật, đặc biệt trong nghệ thuật vườn cảnh. Các ngôi đền Thiền nổi tiếng lúc bấy giờ ở Tokyo là: Ginkakuji, Daisenin, Ryoanji, Nazenji vaTenryuji.
Nhà Mĩ học lớn Yoshimasa là người đã xây dựng Ginkakuji đã muốn xây dựng nên một quần thể kiến trúc thể hiện một vẻ đẹp tuyệt diệu của thế giới mà đạo Thiền đã răn dạy, mà một trong những điểm cơ bản là hoà tan cuộc sống tinh thần với thực tiễn thường nhật. Thời kỳ này, Trà đạo cũng phát triển, kéo theo sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, rất nhiều kiến trúc Thiền có dáng vẻ tinh tế.
Cũng trong thời kỳ này, trong nhà ở phát triển một loại hình không gian nhỏ có tên là Tokonoma dể treo và dựng, cất đặt tranh vẽ, tượng và hoa.

Những tác giả cuốn “Nghệ thuật kiến trúc Nhật Bản” (David và Michiko Young (Lưu Vãn Hy dịch) đã nêu lên các đặc điểm của kiến trúc Nhật Bản như sau:
– Đó là một nền kiến trúc coi trọng các vật liệu và phong cảnh tự nhiên. Trong khái niệm này, về vật liệu xây dựng, người Nhật Bản rất thiện nghệ trong việc sử dụng gỗ và bảo dưỡng vật liệu gỗ. Các loại mái được làm bằng tranh, lá cây, đất sét. vể khái niệm tôn trọng phong cảnh tự nhiên, vì chùa chiền xây dựng trên núi, nên toàn bộ quần thể không xây dựng theo kiểu cân đối của Trung Quốc mà xây dựng theo kiểu bất đối xứng.
– Kiến trúc Nhật Bản dung dị và hoa mĩ, rất chú ý đến chi tiết. Sự dung dị và hoa mĩ kết hợp nhuần nhuyễn với nhau như cột đỏ đi đôi với tường trắng, các kiến trúc công cộng thường nhiều màu sắc hơn là các nhà ở trong nhà và đơn giản. Kiến trúc Nhật Bản cũng rất quan tâm đến chi tiết. Kết cấu gỗ khi lắp ghép không dùng tới đinh để dễ tháo lắp và sửa chữa.
– Kiến trúc Nhật Bản chịu ảnh hưởng của bản địa một cách mạnh mẽ kết hợp với sự tinh lọc kinh nghiệm của nước ngoài. Thời cổ đại và Trung đại, kiến trúc Nhật Bản chịu ảnh hưởng của Triều Tiên và Trung Quốc, thời Cận đại và Hiện đại, kiến trúc Nhật Bản chịu ảnh hưởng của châu Âu và Mỹ. Người Nhật Bản hấp thụ những kinh nghiệm gì mà họ cho là có lợi cho mình và hấp thu những bài học mà họ cho là mang tính chất vãn hoá. Sự cộng sinh văn hoá đó tạo ra cho kiến trúc Nhật Bản những phong cách mới và độc đáo.
– Người Nhật Bản rất nỗ lực trong việc bảo tổn di sản kiến trúc. Họ cũng cô gắng trong việc bảo tồn các toà nhà cổ. Điều này thể hiện rõ nét nhất trong việc sử dụng kết cấu gỗ, với ưu điểm là dễ sử dụng, dễ tạo dáng khác nhau, dễ chông động đất, tuy nó có nhược điểm là dễ mục, dễ cháy. Người Nhật sửa chữa và xây cất lại các công trình kiến trúc gỗ theo định kỳ.
Trong quyển Nliật Bản kiến trúc và con người do Eiichi Aoki chủ biên, các tác giả cũng có những nhận định về đặc điểm kiến trúc Nhật Bản tương tự:
– Kiến trúc Nhật Bản luôn luôn có sự đồng cảm với môi trường, người Nhật luôn luôn có tinh thần hợp tác với thiên nhiên và cố gắng thích ứng với thiên nhiên. Nền nhà Nhật Bản được nâng cao, bên trong thoáng để không khí lưu thông, để chống ẩm, còn để chống mưa hắt người Nhật làm cấu trúc mái lớn, rủ xuống thấp để bảo vệ bên trong.
– Việc chọn vật liệu xây dựng do khí hậu quyết định, gỗ được chuộng hơn cả vì gổ nhạy cảm với khí hậu. Nhà gỗ mát, tuy dễ bị ẩm, nhưng mùa đông không bị lạnh, kết cấu gỗ cùng với các tấm vách panen trượt phủ giấy mờ có trọng lượng nhẹ tạo ra cách bố cục linh hoạt trong nhà ở.
– Về khái niệm không gian trong kiến trúc, nhà và vườn mang tính chất liên tục, kiến
trúc Nhật Bản không có sự ngăn chia rõ rệt nội thất và ngoại thất, chính vì vậy người Nhật coi trọng Engawa (hiên nhà). *
Về kiến trúc Cận hiện đại, ngay từ thời Minh Trị bắt đầu từ 1868, nhà nước Nhật đã có chủ trương mời nhiều chuyên gia và kỹ sư nước ngoài sang đào tạo người Nhật và giám sát công trình các dự án.
Việc kết hợp phương pháp xây dựng bằng gỗ kiểu tryền thống Nhật Bản với phương pháp xây dựng và thiết kế phương Tây được kết hợp với nhau.
Ảnh hưởng của kiến trúc sư người Anh Josiah Conder bắt đầu từ năm 1877 khá lớn, khi ông được mời sang Nhật dạy Trường cao đẳng Công nghiệp (nay là Khoa kĩ thuật Đại học Tokyo), ông là thầy học của một số kiến trúc sư Nhật Bản lúc đó như Tatsuno Kingo và Katayama Tokuma.
Những người Nhật đã thiết kế một số công trình kiến trúc kiểu Tây phương nổi tiếng như:
– Katayama thiết kế biệt cung Akasaka vào năm 1909.
– Tatsuno thiết kế Văn phòng chính của Ngân hàng Nhật Bản vào nãm 1896 và Nhà ga Tokyo vào năm 1914.

Chiến tranh thứ II kết thúc, một số kiến trúc sư phương Tây như Frank Lloyd Wright, Antonin Raymodh (Mỹ) và Bruno Taut (Đức) đến Nhật và cũng góp phần vào việc tái khẳng định giá trị của nền kiến trúc truyền thống Nhật Bản. Eiichi Aoki (sách đã dản) đã nói về các kiến trúc sư phương Tây nói trên như sau: “Thông qua cách làm của họ, kiến trúc Nhật Bản ảnh hưởng đến kiến trúc phương Tây, theo cách giống hệt như ukiyo-e đã ảnh hưởng đến hội hoạ phương Tây. Sự quan tâm đến kiến trúc truyền thống thêm lần nữa cũng dẫn đến sự phát triển một phong cách mới trong kiến trúc dân cư của Yoshida Isoya phỏng theo ki thuật Sukiya – Zukuri truyền thống.
Cho đến sau Đại chiến thế giới lần thứ II, vấn đề hiện đại và truyền thống kết hợp với nhau như thế nào vẫn là vấn đề quan trọng trong việc phát triển kiến trúc Nhật Bản. Những thành tựu của nền kiến trúc mới Nhật Bản được đánh giá cao.

Các tác phẩm kiến trúc Đương đại Nhật Bản từ sau 1985 cần được nhìn nhận từ 7 mảng lớn:
– Kiến trúc của các thành phố lớn.
– Kiến trúc của các thành phố trung bình.
– Kiến trúc của các thành phố nhỏ và thị trấn.
– Kiến trúc ngoại ô
– Kiến trúc các khu vực lấn biển
– Kiến trúc nông thôn
– Kiến trúc các khu vực nghỉ ngơi.