kiến trúc Việt Nam đương đại gắn liền và chưa tách khỏi được với truyền thống mà nền kiến trúc Pháp ở Hà Nội và Sài Gòn để lại, nền kiến trúc việt nam đương đại cũng tỏ ra cố gắng gắn bó với trào lưu Hiện đại (Modem Architecture) trên thế giới.
Bốn thập niên gần đây, kiến trúc Việt Nam – do chiến tranh và do hạn chế của sự phát triển kinh tế – gần như là đứng ngoài sự phát triển vũ bão của nền kiến trúc thế giới ở khắp các châu lục. Mãi gần đây mới có dấu hiệu ít ỏi của sự hội nhập.
Những trào lưu mạnh của kiến trúc thế giới ba thập niên cuối của thế kỉ XXI như Neo-Modem, High-Tech, Vemarcular – High-Tech, Post-Modernism, Deconstruction, thậm chí Neo-Regionalism, đểu rất xa lạ đối với nền kiến trúc Việt Nam.
Sự phát triển của lý luận kiến trúc hiện đại, với những khái niệm mới như Chủ nghĩa An dụ (Metaphor hay Allusionism), Kí hiệu học (Semiology), Kiến trục học Hành vi (Behavioral Architecture). Târm lý học kiến trúc (Architectural Psychology), Hiện tượng học kiến trúc (Phenomenology of Architecture), Hình thái học (Morphology of Architecture), những khái niệm mới vể Thẩm mĩ kiến trúc đương đại, tóm lại là nhiều vấn đề về Tư tưởng triết học kiến trúc và Phương pháp luận mới xuất hiện gần đây, đều chưa coi Việt Nam-tlà mảnh đất tốt để có thể bám dễ chắc chắn và phát triển. Những khái niệm không mới lắm trong quy hoạch đô thị như Phương pháp khoa học hệ thống và những khái niệm mới phát triển gần đây nhất về thiết kế đô thị (Urban Design) cũng đều là mới mẻ đối với Việt Nam.
Nhìn những đất nước xung quanh Việt Nam và nhìn xa ra thế giới, chúng ta thấy phải có những cố gắng vượt bậc mới tránh được nguy cơ tụt hậu.
Nhìn ra nước ngoài, từ gần đến xa, chúng ta không khỏi có những suy tư, chẳng hạn khi nhìn ngắm một nhóm nhà cao tầng ở Quảng Châu, ta thấy Trung Quốc đã có những thành tựu lớn về kiến trúc cao tầng. Nhiều khu nhà siêu – cao tầng của Trung Quốc đã có quy trình thiết kế, công nghệ làm thí nghiệm và kinh nghiệm xây dựng phong phú, điều mà Việt Nam còn lâu mới có.
Nhìn xa hơn nữa, chẳng hạn xem nhà ga xe lửa ở trung tâm Quần thể Olympic 2000 ở Sydney, Australia, có kết cấu mái không gian hoàn thiện và công nghệ thi công phần trên mặt đất cũng như phần ngầm hoàn hảo. Đó cũng là những thành tựu mà Việt Nam còn lâu mới bắt kịp thế giới.
Tuy vậy, ngoài những sự hội nhập và tìm kiếm sự chuyển giao công nghệ mới, các kiến trúc sư Việt Nam cũng đang tìm kiếm những đường đi riêng và chỉ bằng cả 2 cách đi đó, trong một tương lai gần, kiến trúc sư Việt Nam mới mong đạt được một số thành tựu mới.
Đã có một thời kỳ, một số kiến trúc Việt Nam được xem là mới, như Trung tàm kĩ thuật Bệnh viện Hữu nghị Hà Nội của KTS Vũ Hoàng Hạc, mộ tác phẩm theo trào lưu kiến trúc Hiện đại (Modem Architecture), nhưng tác giả đã có những cách tân trong xử lý hình khối để khiến cho kiến trúc không gây ra sự nhàm chán.
Lại như Thư viện Trường đại học Xây dựng Hà Nội, tác phẩm của KTS Nguyễn Toàn Thắng, thể hiện rõ nét ảnh hưởng của Le Corbusier và Richard Meier, ta có thể nói đó là “học tập” hay “bắt chước” cũng được.
Ở Thanh Hóa, Nhà làm việc Sở Kế hoạch đầu tư và Sở Công nghiệp Thanh Hóa, tác phẩm của kiến trúc sư Lê Thế Diệp, một biểu hiện của chủ nghĩa Tân cổ điển hiện đại (Neo-Classicism Modemiste), một phong cách nếu không lạm dụng sự hồi cô quá (rétro) thì có thể chấp nhận được.
Với cái cầu đá nhỏ qua suối Yên Tử do KTS Hoàng Chí Dũng thiết kế, tác giả đã dùng những hoa văn dân tộc. Cách đưa các họa tiết mang bản sắc dân tộc vào tỏ ra phù hợp với các kiến trúc nhỏ, điều đó cũng cho thấy không thể đưa mái cong, đấu củng vào những công trình lớn được.
Có thê thấy hình ảnh một số cảnh nội thất kiến trúc Việt Nam lấy bản sắc Việt Nam làm chính nhưng nó còn là một nền kiến trúc Đa văn hóa.
Một cái bàn thờ kiểu dân tộc trong một cãn phòng kiểu Pháp, một cái bàn làm việc hay một cái ghế nghỉ kiểu Singapore hay châu Âu… kết hợp với một tủ sách mới đóng tại Việt Nam. Cách làm trên chỉ thích hợp với điểu kiện kinh tế hạn chế. Điểu đó cũng cho thấy khái niệm Triết học Cộng sinh (Philosophy of Symbiosis) có thể áp dụng ở Việt
Nam và cần được áp dụng ớ Việt Nam và tốt hơn trên tầm vóc lớn và trong diều kiện kinh tế khá hơn, nên hướng về việc hài hòa với một số không quá nhiều phong cách cho một tác phẩm.
Muốn hay không muốn, nền kiến trúc Việt Nam cũng phải tiến lên, muốn hay không muốn, Việt Nam cũng phải hội nhập với Đông Nam Á và phải gia nhập quá trình Toàn cầu hóa.
Những lý luận và những trào lưu mới mà chúng tôi đã nói ở trên sớm muộn cũng sẽ tràn vào Việt Nam. Vì vậy giới kiến trúc Việt Nam phái sẵn sàng. Và kiến trúc Việt Nam phải hội nhập nhưng không hòa tan, đó là một nhiệm vụ hết sức khó khăn, ý kiến mà chúng tôi muốn bày tỏ là bên cạnh con dường lớn của kiến trúc toàn cầu (Global Architecture), kiến trúc sư Việt Nam nào thông minh vẫn có thẻ có những tác phẩm độc đáo, chí có như vậy mới giải quyết được bài toán khó hiện nay mà chúng tôi cho là có lời giải bây giờ còn quá sớm: thế nào là bản sắc kiến trúc Việt Nam. Điều này đòi hòi phải có thời gian, phái có sự tiếp thu công nghệ mới cũng như vận dụng một cách thông minh công nghệ và điều kiện xây dựng bán địa.
Hiện nay, các kiến trúc sư nước ngoài có uy tín và các hãng kiến trúc nổi tiếng của các nước đã bắt đầu có những đóng góp cho kiến trúc Việt Nam những tác phẩm tương đối tốt và tốt. Kiến thức mới và kinh nghiệm mới của kiến trúc thê giới đã được đưa vào.
Tiếc rằng chúng ta chưa có những chuẩn bị kỹ đê tiếp thu các kiến thức mới đó. Chắng hạn Trung tâm Hội thảo quốc gia có hình thức khá mới mẻ thì lại được giao cốt đất quá tháp, mà Hà Nội lại là vùng đất thấp, không cẩn thận thì đường cao hơn nhà.