Trong nghệ thuật kiến trúc, có những hiện tượng bất ngờ và kỳ diệu. Đó là hiện tượng những con người bất chợt sáng loé lên với những hoạt động nghề nghiệp của mình và tầm vóc tư duy cũng như tác phẩm của họ cứ sáng mãi… cùng thế giới. Họ có một khả năng tiềm tàng, tướng như vô tận và rất giàu sức chinh phục.
Đó là trường hợp Tadao Ando, kiến trúc sư Nhật Bản, sinh nãm 1941, người bắt đầu phát huy mạnh mẽ nhất sức mình vào hai thập niên gần đây nhất của nền kiến trúc đương đại. Đây chỉ có thể cắt nghĩa được là một trường hợp đặc biệt bẩm sinh… vì Tadao Ando chưa hề qua một trường lớp kiến trúc nào cả, hoàn toàn tự học mà nên nghiệp lớn.
Hình như vể khía cạnh này nhìn vào ba trường hợp của nửa đầu thế kỷ XX, là những trường hợp của Le Corbusier, Mies Van der Rohe và Frank Lloyd Wright, người ta lại có cảm giác dễ hiểu hơn. Le Corbusier hồi trẻ rất ngại phải gần gũi với lối dạy học kinh viện cứng nhắc. Ông học ở bảo tàng, ở thư viện, học qua những chuyến đi, Le Corbusier đã viết “Với số tiền tiết kiệm được của tôi, tôi đi du lịch qua nhiều nước, xa những trường học, tôi xây dựng cuộc đời mình qua những công trình thực tế… và tôi bắt đầu thức tỉnh”.
Mies Van der Rohe cũng chỉ bắt đầu hoạt động nghề nghiệp của mình từ công việc của một thợ nể, thợ đá là nghề nghiệp của ông cụ thân sinh.
Còn Frank Lloyd Wright, đang học dở hai năm ở Trường xây dựng, đã phái bán đi vài thứ đồ đạc cá nhân để đủ tiền đi xe lửa lên Chicago, phiêu bạt mãi mới xin được vào làm họa viên trong xưởng vẽ của Adler và Sullivan… Đó là ba người đã làm nên cuộc cách mạng kiến trúc của 50 nãm đầu thế kỷ XX. Chuyện đã lâu ngày và đủ thời gian chín muồi những nhận định, nên bây giờ người ta tưởng như ba cây đại thụ Corbusier, Mies và Wright có vẻ như là những chuyện đương nhiên.
Tadao Ando có vẻ như lại khác. Quá trình khắng định của ỏng có cái đặc thù riêng, nhưng thảng hoặc lại có những nét tương đồng và chịu ảnh hưởng của các bậc thầy nói trên. Ando đã có dịp hưởng hương vị thơm của gỗ như Mies lúc làm công việc thợ mộc. Hai mươi tuổi, ông đã nghiên cứu ngấu nghiến một tập tài liệu về Le Corbusier mà ông tìm được. Và nếu trước đây Le Corbusier hành hương vể phía Đông thì nay Ando tiến hành những cuộc hành hương về phía Tây.
Suốt bôn năm trời (giữa tuổi 24 và 28) Ando phiêu du đó đây khắp thế giới trong cảnh nghèo nàn đích thực – chuyến tàu xuyên Sibêri đưa Ando đến Moskva, tiếp đến là Phần Lan (quê hương của Alvar Aalto), Italia (xứ sở của vãn hóa Văn nghệ Phục hưng mà Michelangelo là tiêu biểu), Tây Ban Nha, Pháp… lúc quay vể ông qua Madagascar và Ấn Độ… vể sau này, Tadao Ando còn sang Mỹ. Đối với ông, việc “đi một ngày đàng, học một sàng khôn” lại càng kết quả vì ông có một phương pháp luận tốt.
Trong tiểu sử của Tadao Ando, có đoạn viết “Để trở thành kiến trúc sư ông đã có cách nhìn chính xác của một người hành nghề và trí óc của một nhà triết học, có những lời phê bình sâu sắc về nền văn minh hiện đại. Nhân cách tuyệt vời và nghệ thuật của ông dành cho những công trình kiến trúc có độ dày của chúng”.
Tadao Ando thực sự nổi tiếng từ năm 1968, khi ông mở Văn phòng “Tadao Ando, kiến trúc sư và các cộng sự” ớ Osaka. Phương pháp luận thiết kế của ông chính xác và sắc bén đến mức lúc đầu chỉ từ những ngôi nhà ớ nhỏ, ông đã dành được một uy tín lớn.
Dần dần, danh mục các tác phẩm chính của Tadao Ando ngày một nhiều lên trông thấy, chẳng hạn ta có thế kể:
– Nãm 1975: Ngôi nhà Row ở nhà Azuma Sumiushi.
– Năm 1976: Tòa nhà Vườn hồng (Rose garden).
– Năm 1979: Tòa nhà Glass block.
– Nãm 1981: Ngôi nhà ở Koshino.
– Nãm 1983: Nhóm nhà ở căn hộ Rokko I (ở Hyogo).
– Năm 1984: Củng trình thương nghiệp cao cấp Rose garden.
– Năm 1984: Còng trình thương nghiệp cao cấp Time’s (cùng loại công trình trên, năm 1988 tòa nhà Galleria Akka.
– Nãm 1989 Tòa nhà Collezione).
– Năm 1986: Nhà thờ trên núi Rokko.
– Nãm 1988: Nhà thờ trên mặt nước.
– Nãm 1989: Nhà thờ ánh sáng.
– Năm 1986 – 1988: Một loạt các công trình Trà lễ.
– Nãm 1989: Nhà tưởng niệm Natsukawa.
– Năm 1989 – 1992: Cụm nhà ở Rokko II.
– Năm 1989: Tòa nhà Raika Headquarters Building.
– Năm 1992: Tòa nhà Nhật Bản ở Triển lãm EXPO’92 ở Sevilla, Tây Ban Nha.
Người ta cảm thấy công trình của Tadao Ando xuất hiện ở khắp nơi, sự có mặt liên tục của ông trong thế giới kiến trúc với những tác phẩm có chất lượng cao là bằng chứng của một sự làm việc liên tục và cãng thảng khiến mọi người kinh ngạc.
Liệu tốc độ làm việc gấp gáp của ông có phải là sự đúc kết của một cá tính của con người Tadao Ando đã một thời là võ sĩ quyền anh. Trong thi đấu trước đây, giác quan của Ando thấm đẫm sự căng thẳng bao nhiêu thì sau này ngôn ngữ kiến trúc của ông giàu sức mạnh và gây một sức căng thị cảm mãnh liệt bấy nhiêu.
Tadao Ando thường đặt công trình của mình vào một mạng lưới ô vuông. Trong mạng lưới đó ông hay xoay công trình đi một góc nhất định, vũ trụ của tác phẩm như là được thu tóm vào những ô mạng kỳ diệu đó. Những hình chữ nhật thường đặt cắt chéo bới các tuyến sắc, những hình tròn thường được kết hợp với các hình vuông. Và ánh sáng trong kiến trúc của ông thì chuyển sắc dần dần, khi thì xuất hiện mãnh liệt… Đó là ngôn ngữ kiến trúc của ông.
Sự nghiệp của Tadao Ando được tích lũy dần dần và ngày càng được đánh giá cao. Các giải thướng liên tục đến với ông, ngay cả giải thướng đầu tiên là dành cho tòa nhà Row ở Sumushi chỉ có 65m2. Tiếp đó là tòa nhà ở Kidosaki đoạt giải thướng Isoya Yoshida, khu nhà ở Kodosaki đoạt giải thưởng vãn hóa Nhật Bản. Rồi nhà thờ trên núi Rokko đoạt giải nghệ thuật Mamichi…

Những giải thưởng quốc tế mà Tadao Ando nhận được là huy chương vàng Alvar Aalto và huy chương vàng của Viện hàn lâm kiến trúc Pháp. Năm 1995, Tadao Ando nhận giải thưởng Pritzker – giải thưởng Nobel trong kiến trúc. Tadao Ando là uỷ viên nhiều hội đồng chấm thi quốc tế, đồng thời là giáo sư thỉnh giảng ớ các trường đại học ở Nhật Bản, Đại học Yale, Đại học Columbia và Đại học Havard. Tadao Ando còn là tác giả của nhiều cuốn sách xuất bản trong khoảng từ 1982 đến 1989.

Kiến trúc sư Tadao Ando - con người và tác phẩm 1

Trở lại với những tác phẩm cụ thể của Ando, ta sẽ có phần bị kích thích và cảm thấy sự đa dạng hầu như đã đựng đầy trong các loại hình kiến trúc khác nhau đó. Sự đa dạng trong cái thống nhất, đó chính là nguyên tắc cao nhất trong cái đẹp.
Trước hết về nhà ở: hai khu nhà Rokko I và II ớ Kobe, Hyogo có nhiều đặc điểm đáng chú ý. Hai khu nhà ở cạnh nhau, cùng nằm trên thế núi dốc đứng (đến 60°). Một mạng ô vuông ba chiều (5,2m trên mặt bằng), nâng cao dần lên làm cho công trình vừa kết hợp nhuần nhuyễn với địa hình và ngự trị được địa hình. Khu Rokko II quy mô gấp bốn lần Rokko I. Ở Rokko II, khi lặp lại mạng lưới năm lần theo chiều ngang, ô ở giữa được đục thủng để lấy ánh sáng. Phần tâm của các nhóm nhà có lõi cầu thang và thang máy, cũng là lõi của kết cấu luôn. Tác giả chú ý khi các khối nhà đặt cạnh nhau, những nhà ở riêng rẽ vẫn mang tính riêng biệt của nó. Một tầm nhìn đã được trải rộng, từ trên các mái nhà nhấp nhô cao dần lên đều có thê nhìn thấy biển cả. Tác giá lý giải bô cục của mình trên bình diện rộng, nó liên quan đến thiên nhiên và môi trường vốn rất phong phú ở đây.
Trong những ngôi nhà nhỏ do Tadao Ando thiết kế, ngôi nhà Ashiya ớ giữa Osaka và Kobe (1988) cũng là một tác phẩm nhỏ nhưng quan trọng. Những bức tường làm hàng rào luôn bao quanh tòa nhà và những bức tường chịu lực như là một loại bình diện thằng đứng, thống nhất. Ớ bên trong tòa nhà, nội thất và ngoại thất vừa như được chia riêng, vừa như được hòa nhập làm một. Một bức tường tròn lấy tâm là giao điểm của hai bức tường trực giao cắt qua phần giữa ngôi nhà, những chỗ lọt ánh sáng vào hay từ trên xuống, sự dồi dào màu xanh của cây cối và thảm cỏ… đã đóng góp vào chất lượng của công trình.
Bộ sưu tập nhà của Tadao Ando phong phú bao nhiêu thì danh mục các nhà thờ đã thiết kế cúa Ando cũng giàu có không kém.

Việc tổ chức ánh sáng ớ đây thật là độc đáo, đập vào mắt mọi con chiên là “Một cây thập tự ánh sáng”, một thứ ánh sáng thiên nhiên kỳ ảo.
Nhà thờ trên mặt nước là một nhà thờ đặt trên một hồ nước nhân tạo kích thước 90 X 45m ở vùng đồng bằng thuộc dải núi Yuban ở Hokahaido.
Ngôi nhà thờ đật trong một khung cảnh tuyệt đẹp: sóng nước gợn lãn tãn và vào mùa đông nước đóng băng tạo thành nền trắng.
Những thành phần chính của bố cục là hai khối hình hộp cao thấp khác nhau (có cạnh 10 và 15m) ghép vào nhau, chiếc lồng ánh sáng nhỏ hơn bằng pha lê chứa bốn cây thập tự. Hướng ra mặt hồ, nơi đây trên mặt nước đã bô’ trí sẵn một cây thánh giá và một bức tường bao bằng bêtông tạo khả nãng định hướng. Quang cảnh hồ nước được triển khai dần dần và quá trình phát hiện phong cảnh được “chương trình hóa” nên nếu ta chỉ đi dọc phía ngoài tường sẽ không thấy mật hồ và điều này chỉ xảy ra khi đến khoảng trống của cuối bức tường.