Thời Trung đại

Thời Trung đại trong lịch sử Ân Độ bắt đầu với việc người Arập tràn vào bán đảo thế kỷ thứ VII và kết thúc cùng sự sụp đổ của đế quốc Moghul thế kỷ XVI. Có thế nói là thời kỳ mà văn hóa Hồi giáo du nhập vào Ân Độ và tổng hợp với văn hóa Ân.
Các sắc dân Arập mang theo đạo Hồi xâm nhập Ấn Độ từ năm 664, nhung có thể nói, văn hóa Hồi giáo chỉ thực sự tạo ảnh hưởng tại đất nước này khi người Thổ đến định cư và lập chính quyền cai trị đầu thế kỉ XII. Các Sultan Hồi giáo định đô ở Delhi rồi tiến xuống chinh phục các tiểu quốc phương Nam.
Trong nhiều thế kỷ, ớ miền Nam Ấn Độ, vùng cao nguyên Deccan, có nhiều vương quốc độc lập tồn tại song hành với các đế chế lớn ớ miền Bắc. Những vương quốc này khá phát triển, đạt nhiều thành tựu vể văn hoá nghệ thuật mà đáng chú ý nhất là Vijayanagar. Tại quốc gia lớn nhất miền Nam này, đa số dân chúng theo đạo Hindu, “văn học thịnh vượng, hoạ và kiến trúc phát triển mạnh, người ta xây cất những đền vĩ đại mà mặt đá gần như chỗ nào cũng chạm trổ” (Will Durant – Lịch sử văn minh Ân Độ).
Tuy nhiên khi người Hồi giáo tràn xuống, toàn bộ những giá trị văn hoá Ấn Độ còn lại ở phương Nam đã bị tàn phá nặng nể. Những quốc vương theo đạo Hồi cai trị một cách hà khắc, tàn bạo làm cho những yếu tố truyền thống địa phương không phát triển được, đồng thời ra sức khuếch trương tôn giáo mới. Họ đã phá huỷ vô sô’ những ngôi đền Hindu và dựng nên rất nhiều kiến trúc Hồi khác nhau, từ giáo đường cung điện đến lãng mộ. Tuy vậy, từ thê kỷ XVI cũng có nhiều vị minh quân như Babur hay Akbar đã tỏ ra khoan dung với tôn giáo bản địa. Chính những vị vua đó đã dịch sách chữ Phạn và trọng „ 9 * 7‘ đãi nghệ sĩ, triết gia An. Người An dùng tài nghệ của mình góp phần tô điếm sự hùng mạnh của những triều đại Hồi giáo, song trong quá trình đó họ lại bị hấp thu tư tướng Hồi. Kết quả là, các dân tộc theo Hồi giáo xâm nhập An Độ tuy có phá hoại một phần văn minh bản địa, nhưng “sự hỗn dung văn hoá giữa Ân và Hồi lại thúc đẩy văn hoá An Độ phát triển trên những con đường mới, đạt những thành tựu quan trọng về nhiều mặt: tôn giáo, văn học và nghệ thuật” (Đại cương văn hoá phương Đông – Lương Duy Thứ, Phan Thu Hiền, Phan Nhật Chiêu – NXB Giáo dục 1996).

Thời Cận đại

Thời Cận đại của lịch sử Ấn Độ là thời đại đất nước này tiếp xúc với văn hoá châu Âu, đồng thời cũng bước vào thời kỳ bị thực dân phương Tây thống trị. Bồ Đào Nha có thể là nước đầu tiên ớ châu Âu có tiếp xúc tầm quốc gia với Ấn Độ khi Vasco de Gama cập cảng Calcuta nhận quốc thư của một vị tiểu vương Ân. Trong nhiều thế kỷ, người Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp đến xâm chiếm Ân Độ và đánh lẫn nhau để giành quyền khai thác thuộc địa này. Cuối cùng, từ cuối thế kỷ XVIII, khi gạt bỏ được người Pháp, đế quốc Anh đã trở thành kẻ thống trị tuyệt đối bóc lột dân tộc Ân Độ một cách tàn bạo. Có thê coi đây là trang sử đau đớn nhất cúa Ân Độ, là “thời kỳ lịch sử tủi nhục nhất của Ân: bị phụ thuộc về chính trị, bị bóc lột về kinh tế, xã hội trì trệ” và rơi vào “tình trạng tôi mọi về tinh thần” (Đại cương văn hoá phương Đông – Lương Duy Thứ, Phan Thu Hiền, Phan Nhật Chiêu – NXB Giáo dục 1996).
Tuy nhiên, dưới thời kỳ đau khổ đó, một phần của văn hoá châu Âu cũng được lan toá trên đất Ân và cùng với phong trào dân tộc cuối thế kỷ XIX tạo nên những chuyên biến mạnh mẽ trong văn hoá, đời sống xã hội Ân Độ. Những trì thức Cận đại của Ân Độ đã Phục hưng văn hoá Ân bằng việc dấy lên những phong trào cải cách về tôn giáo, văn hoá, chính trị, tạo ra những nền tảng cho xã hội Ân Độ thời kỳ mới. Tiêu biểu trong số đó là M. Gandhi, J. Nerhu và Tagore, những người ít nhiều được đào tạo theo kiêu Tây phương nhưng trong tâm khảm luôn thấm đẫm tinh thần truyền thông An Độ. Họ đã tiếp thêm cho văn hoá, xã hội Ân một nguồn sinh lực mới mẻ để dàn tộc này bước vào kỷ nguyên hiện đại một cách vững vàng.
Tóm lại, nhìn vào lịch sử văn hoá Ấn Độ với một chuỗi những cuộc tiếp xúc giữa các nền văn hoá, chúng ta có thể thấy được sức sống mãnh liệt của dân tộc và văn hoá Ân. Trong bất cứ giai đoạn nào, dân tộc Ân cũng rút tỉa được những tinh hoa từ các dân tộc khác đem đến đế tiếp thêm sức sống và tự làm mới mình, đồng thời ánh hướng ngược lại, thậm chí đồng hoá nhiều sắc dàn xâm nhập. Kết quả là văn hoá Âi Độ một mặt trớ nên ngày càng nhận thêm những yếu tố phong phú, một mặt lại hiến tặng cho các nền văn hoá khác nhiều giá trị to lớn về khoa học, tôn giáo, nghệ thuật.