Không phải đến thời kỳ đầu thế kỷ XXI, thế giới mới phát hiện ra tương lai của khu vực Đông Á sẽ gắn bó với sự xuất hiện của nhiều khu vực siêu đại đô thị, mà dự kiến này – theo các nhà nghiên cứu kinh tế, địa lý và đô thị học – đã được đưa ra từ cách đây mấy thập kỷ.
Trong đó ở Đông Nam Trung Quốc (Hoa Nam), đô thị Quảng Châu và khu vực liên đô thị Quảng Châu đang là một cực hấp dẫn sự chú ý của nhiều người, và trọng tâm bài viết của chúng tôi lần này là nhằm vào đô thị và kiến trúc Quảng Châu.
Quảng Châu là đô thị hàng đầu của tỉnh Quảng Đông, cùng với Thâm Quyến ở phía Đông, Chu Hải ở phía Nam, và Sơn Đầu, Nam Hải, Trung Hải, Giang Môn, Hạc Sơn, Hoa Đô, Tùng Hoá, Tăng Thành, Phiên Ngu, Đông Quan… là một chuỗi đô thị bao quanh, xa hơn nữa là Hạ Môn. Tất nhiên, ta cũng không thể không kể đến đô thị Hồng Kông và đô thị Macao, là 2 thành phố ở gần kể và có tác dụng tương tác rất quan trọng với Quảng Châu.
Quảng Châu là một “lịch sử danh thành” của Trung Quốc, ở đây có núi, có sông và gần biển. Đặc biệt, vai trò của sông Châu Giang rất quan trọng (sông Châu Giang là một trong 3 con sông lớn nhất Trung Quốc, cùng với sông Hoàng Hà và sông Trường Giang, cả 3 con sông này là “những cái nôi” nuôi dưỡng sự lớn lên của rất nhiều đô thị quan trọng của Trung Quốc). Chúng ta có thể nói, Quảng Châu và nhiều thành phố lớn ở Trung Quốc có rất nhiều kinh nghiệm về xây dựng các thành phố có sông ngòi.
Chính vì vậy, đặc điểm số một của đô thị Quảng Châu là nó nằm trên tam giác châu thổ sông Châu Giang, chính tam giác châu thổ của con sông này đã biến Quảng Châu thành cửa ngõ phía Nam của Trung Quốc, từ rất xa xưa nó đã là cảng khẩu thương mại đối ngoại.
Chính hoạt động trên bến dưới thuyền, tụ hội bốn phương này, đến thời kỳ cận đại, đã biến Quảng Châu thành nơi khởi nguồn của cách mạng (khởi nghĩa Quảng Châu nãm 1911, sau đó là căn cứ hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc thập niên 1920).
Trong suốt hai thập niên gần đây, Quảng Châu là khu vực mũi nhọn của sự phát triển kinh tế cũng như sự biến đổi sang nền kinh tế thị trường, vì bắt đầu từ năm 1980, Trung Quốc đã thiết lập 4 đặc khu kinh tế ở Quảng Đông là Thâm Quyến, Chu Hải, Sơn Đầu và ở tỉnh lân cận là Hạ Môn.
Đặc điểm thứ hai của đô thị Quảng Châu là ở thành phố đóng vai trò then chốt trong quá trình hình thành cụm siêu đại đô thị ở vùng này, có số nhân khẩu và nguồn nhân lực lớn, có tính đa dạng của quy hoạch đô thị (có hai đô thị quốc tế hoá ven biển là Hồng Kông (trung tâm kinh tế, tài chính, tiền tệ) và Macao (trung tâm thương nghiệp và du lịch), vì vậy Thâm Quyến và Chu Hải có thể nhanh chóng mở rộng, cùng “hỗ trợ” mạnh mẽ cho Quảng Châu – Thành phố đang chiếm vị trí quan trọng nhất trong khu vực sông Châu Giang, có tính đa dạng của sự cộng tồn hoạt động kinh tế bảo đảm sự phát triển nhanh chóng của hạ tầng cơ sở và mạng lưới giao thông, lưu lượng khách du lịch, sự lưu thông tiền tệ và thông tin…).
Cấu trúc đô thị Quảng Châu cũng là một chủ đề lớn rất đáng quan tâm. Nó bao gồm các vấn đề chính sau đây: môi trường và cảnh quan chung, khu vực thành phố cổ, cấu trúc đô thị Quảng Châu hiện nay và các yếu tố tạo thành nó.
Quảng Châu có một môi trường cảnh quan tổng thể rộng lớn liên quan hoặc bao quanh (tiếng Anh: The surrounding landscape, tiếng Pháp: Le grand paysage) rất hấp dẫn, bao gồm ở phía Bắc là một dải núi liên tục nối kết nhau cao trên 300 mét, với ngọn núi nổi tiếng nhất là Bạch Vân Sơn, phía Nam là sông Châu Giang với một mạng lưới các sông nhánh rất thuận tiện cho việc phát triển đô thị về hướng này, các dòng chảy của sông Châu Giang từ xưa đến nay luôn luôn là những con đường huyết mạch của giao thông đối ngoại và ngay từ xưa đã là khởi điểm của con đường tơ lụa trên biển.
Khu vực thành cổ có lịch sử lâu đời 2000 nãm. Đến đời Nhà Tống, Quảng Châu đã đối mặt với một sự phát triển nhanh chóng hơn, nó được xây mới thêm vào nãm 1044 và các bức thành cổ được xây dựng ở phía Tây năm 1069 và phía Đông năm 1072.
Ba khu vực đô thị này liền kề nhau, ở giữa chúng có núi Phiên Sơn và Ngu Sơn, nên tên gọi Quảng Châu lúc bấy giờ là Phiên Ngu. “Tử Thành” ở giữa là Trung tâm chính trị và hành chính, “Tây Thành” là khu vực thương nghiệp (trong khu vực này hiện nay vẫn còn giữ lại được 3 ngôi đền chùa cổ, trong đó có một ngôi đền Hồi giáo, và ở gần đó một khu vực ở dành cho những nhà buôn người Ảrập và người Ba Tư). Con đường có tên là đại lộ Trung Sơn đi xuyên từ Đông sang Tây trong bản đồ Quảng Châu hôm nay chính là đường trục nối liền 3 khu thành cổ xưa kia.
Đền đời nhà Minh Hồng Võ thập tam niên (1380), ba toà thành trên được kết hợp làm một, và mở rộng vể phía Bắc đến sát chân núi Việt Tú Sơn. Ở đây hôm nay chúng ta có thể thấy nhà Bảo tàng Quảng Châu, nơi trưng bày rất nhiều bản đồ được vẽ qua nhiều thời kỳ lịch sử. Đến năm 1566, Quảng Châu có bức tường thành phía Nam thứ 2. Đời nhà Thanh cũng xây dựng nhiều kiến trúc mới và nhiều đường cống thoát nước trong thành nội. Cũng từ lúc đó, các nhà buôn châu Âu đã đến làm ăn ở khu vực Sa Diện, phía Tây Nam thành phố. Quáng Châu còn có tên nữa là “Lĩnh Nam” hay “Dương Thành”. Nãm 1929 – 1930, đô thị Quảng Châu có những bước phát triển mới, mở rộng ra khỏi trung tâm cũ, chủ yếu về hướng Nam với việc xây dựng chiếc cầu thứ nhất trên sông Châu Giang – cầu Hải Châu – thành phố đã nối liền với khu vực Hải Châu và cả một vùng đất mênh mông phía Nam.
Có lẽ vấn đề đáng bàn nhất là cấu trúc và các yếu tố tạo thành đô thị Quảng Châu hiện tại. Nãm 1982, Quảng Châu chia ra 4 khu (quận), hai khu vực phía Tây gắn bó với phò cổ, phố cũ, với kiến trúc truyền thống, mang đặc sắc riêng thường gọi là “Lĩnh Nam”, hai khu (quận) phía Đỏng – mới hơn – chiếm tới 60% dân số, và mật độ khu vực trung tâm vượt quá 40.000 dân/km2.
Tiếp theo, Quảng Châu có thêm 4 khu (quận) mới nữa, với 8 khu (quận) này có số dân 3.700.000 người, số người tạm trú là 150 vạn, số người vãng lai lưu động là 100 vạn người. Diện tích khu vực trung tâm là 15km2.