kiến trúc cổ Hội An bao gồm nhóm 1 là các công trình dân dụng bao gồm nhà ớ, khu chợ, giếng cổ và cầu. Nhóm thứ 2 gồm các các công trình thờ cúng tín ngưỡng như dinh chùa miếu, nhà thờ họ. Trong sô các loai hình công trình này, kiên trúc nhà ớ là loại hình quan trọng nhất. Đôi với kiến trúc nhà ở lại được phân ra hai loai chú yếu, gồm nhà phố trong khu phố cổ và loại nhà rường nằm rải rác ớ các vùng phụ cận cứa Hội An.
Kiến trúc nhà phô gồm có chiều cao khác nhau, từ 1 tầng đến nhà 2 tầng, vừa là nơi ớ, buôn bán, giao dịch sản xuất. Diện tích xây dựng công trình chiều ngang hẹp, từ khoáng 4m -í- 8m, trong khi chiều sâu của nhà biến thiên từ khoảng 10m -T 40m. Phía trước có cửa hàng giáp mặt phổ, phía sau là sinh hoạt cúa chú nhà. Mãt bàng cá nhà trước lẫn nhà sau được tạo thành từ ba gian chiểu ngang và ba gian chiểu sâu. Giữa nhà chính là bôn cột cái cao hơn hắn các cột thông thường, được gọi là Tứ thiên trụ. Nhà phố là loại hình công trình chiếm đa số trong sỗ các di sản kiến trúc Hội An, ớ tập trung chú yếu trên các đường Trần Phú, nguyền Thái Học (Viện nghiên cứu vãn hóa Quốc tê – Trường Đại học nữ Chiêu Hòa, 2003).
Nhà được bao phía ngoài nhà băng gạch, có tác dụng giới han không gian trong và ngoài nhà. Tường hồi xây thắng lên tiếp giáp VỚI mái theo dạng thu hổi. bít đốc Phán kết thúc cúa bờ mái thường không đươc trang trí nhưng đươc tao dáng mém mại. đãp nổi thành dạng “long đình” (Nguyền Đình Toàn. 2002) Bên cạnh dó còn có môt sỗ dang diểm bờ mái khác như diềm mái tròn, diềm mái tròn ngăt đoan và diém mái thắng ngát đoạn. Các bờ mái có trang trí nàv tập trung chú yếu xung quanh khu vực hội quán
Phúc Kiến. Đây chính là ảnh hướng của kiến trúc hồi mái nhà dân gian truyền thông các tỉnh Phúc Kiến, Quảng Châu thuộc miền Nam Trung Quốc (Viện nghiên cứu Vãn hóa Quốc tê – Trường đại học nữ Chiêu Hòa, 2003). Vách ngăn bên trong không gian nội thất nhà thường làm bằng gỗ, theo kiếu ván lồng khung tạo hình có trang trí các chi tiết hoa văn vuông hoặc chữ nhật với gờ chi tinh tế. Giữa hai không gian nhà chính buôn bán và nhà sau sinh hoạt là không gian mớ sân trời và nhà cầu kết nối với chức nãng thông thoáng, và lấy ánh sáng cho toàn bộ công trình. (Nguyền Bá Đang, 2001). Kết câu nhà cầu độc lập với kết câu nhà trước và nhà sau. Một điếm đặc biệt tất cả các công trình trên con đường cổ nhất của Hội An là đường Trần Phú, nhà cầu luôn nằm trên cùng một phương vị đối với sân trong (Viện nghiên cứu Vãn hóa Quốc tế – Trường đại học nữ Chiêu Hòa, 2003).
Hệ kết cấu chịu lực của kiến trúc cổ Hội An là hệ khung gỗ chịu lực quen thuộc của kiến trúc Á Đỏng. Đặc trưng cơ bán của loại hình kết cấu này là sự liên hệ cua các vì kèo tạo thành bộ sườn chịu lực. Toàn bộ tải trọng của mái được dồn xuống nền qua hệ thống cột, vì kèo và xà. Quan trọng nhất trong hệ kết cấu này là các liên kết cột. Hệ liên kết cột phố biến Hội An là liên kết con rường và liên hết kèo-kẻ (Trịnh Cao Tướng, 2007). Một dạng biên thể đặc biệt của vì kèo xuất hiện ớ Hội An là hình thức vì vỏ cua, sử dụng ớ các không gian thảo bạc và hiên nhà tầng trên nhìn ra đường. Trang trí của vì vỏ cua rất phong phú và đa dạng với các để tài gắn chặt với yếu tô sông nước như cá, mày nước, thúy quái. Các chú đề trên thể hiện nguồn gốc cảm hứng thẩm mỹ xuất phát từ sông nước là đặc trưng cơ bản môi trường sông của cư dân Hội An cổ (Nguyễn Đình Toàn, 2002).
Chính nhờ có sự giao thoa vãn hóa mà chỉ có ờ Hội An, người ta mới có thể thấy vì kèo kẻ chuyền của người Việt đứng cạnh chồng rường, đấu củng cùa người Hoa Bắc, lẩn với liên kết kèo chồng của vùng Hoa Nam, kết hợp với kỹ thuật lắp kèo Wanagi, liên kết hoành Kanawa của Nhật bản. Tuy nhiên, thay vì sự hòa trộn các loại kết cấu lại với nhau, tạo ra một kiếu kết cấu mới như ở đồng bàng Bắc bộ\ trong kiến trúc cổ Hội An các kết cấu trên lại tồn tại độc lập trong từng gian nhà của một ngôi nhà . Điều này thế hiện sự “cởi mớ tiếp thu các yếu tố vãn hóa khác song vẫn bảo vệ vững chắc các truyền thông riêng, nỗ lực tạo nên sự thống nhất trong cái riêng biệt” của người dân Hội An (Trịnh Cao Tưởng, 2007, trang 123).
Đối với nhà phố thì đa phần là hai mái, dạng mái bốn góc chỉ sử dụng ở các hội quán hoặc trong nhà thờ họ. Hệ mái của các công trình thường sử dụng ngói ống hoặc ngói âm dương. Trong đó, ngói ống chỉ dùng trong các công trình hội quán. Có thê nói, nét quyến rũ lớn nhất của kiến trúc phố cổ Hội An nằm ớ vẻ đẹp duyên dáng của hệ mái công trình (Viện nghiên cứu văn hóa Quốc tế – Trường đại học nữ Chiêu Hòa, 2003). Với sự kết nối trùng điệp lên xuống, các lớp mái vừa tạo cảm giác vể thẩm mỹ, vừa có tác dụng thông gió, “bẫy gió” cho dạng nhà ống phố cổ.

Đặc điểm kiến trúc cổ Hội An 1

Mặt đứng nhà ở thường có ba gian hoàn toàn đối xứng, có chiều cao thay đổi từ 4m đến 9m. Một trang trí kiến trúc ở mặt đứng của kiến trúc Hội An mà không thấy có ở nơi khác đó là mắt cửa. Chi tiết này được làm bằng gỗ tròn, có đường kính khoảng 20cm, dày 8 đến 10cm. Ở Hội An có khoảng trên dưới 30 kiểu mắt cửa khác nhau với các chi triết trạm trổ từ đơn giản đến phức tạp. Hai mắt cửa được đặt đối xứng trên các khung cửa chính thể hiện luật cân bằng âm dương vũ trụ. Công năng chính ban đầu của mắt cửa có lẽ là chốt gỗ. Sau này mắt cửa được gán cho những ý nghĩa mang màu sắc tâm linh tính ngưỡng nhất định. Đặc biệt là chưa một nhà nghiên cứu văn hóa nào khẳng định được nguồn gốc văn hóa của chi tiết kiến trúc mắt cửa. Đó được xem như một sản phẩm vãn hóa đặc thù của kiến trúc cổ Hội An (Nguyễn Trung Hiếu, 2007). Ý nghĩa của mắt cửa có thể xuất phát từ khái niệm Vạn vật hữu linh trong vãn hóa cổ phương Đông. Đó là ngôi nhà cũng như con người đều có vận mệnh, mắt cửa là yếu tố gắn kết, soi rọi vận mệnh ngôi nhà, che chở và chứng kiến vận mệnh con người. Mặt khác, cũng có thể, mắt cửa là chi tiết biến hóa từ đôi mắt phổ biến của ghe thuyền Nam Trung bộ. Một họa tiết trang trí thể hiện nguồn gốc văn hóa sông nước của cư dân Hội An. Ngoài mắt cửa, thì họa tiết trang trí của công trình rất đa dạng và phong phú. Theo nghiên cứu của Đại học Nữ Chiêu Hòa (2003), trang trí ở Hội An có thể được chia thành 7 môtíp khác nhau . Trong đó ta thấy có ít nhất 4 môtip thể hiện ảnh hướng từ văn hóa Trung Hoa (chữ Hán, hình rồng, hình dơi và cá chép).
Bên cạnh kiến trúc nhà ở hàng phố, thì nhà thờ họ là một dạng kiến trúc khá phổ biến ở Hội An. Trong khu phô’ cổ Hội An có nhiều công trình trên dưới 200 nãm tuổi như nhà thờ họ Trương (địa chỉ 69/1 Phan Chu Trinh), nhà thờ họ Trần (số 24 Lê lợi), nhà thờ họ Lê (còn có tên nhà cổ Tấn ký). Phần chính của các nhà thờ họ để thờ cúng và phần phụ bên cạnh để vị trưởng tộc cũng như khách ở. Nhà thờ họ có hình thức khác với nhà hàng phô nhưng nhìn chung được phát triển xung quanh môđun không gian cơ bản 3 gian X 3 gian như nhà hàng phố. Ngược lại với nhà mặt phố, không gian thờ chính của nhà thờ họ không nằm sát mặt đường mà lùi lại, nằm sau không gian nhà phụ và sân trong.