• Các vùng vân hóa của Việt Nam
Cùng với sự khác nhau vể địa lý, lịch sử, kinh tế và điều kiện khí hậu, việc hình thành các vãn hóa vùng là một sản phám tất yếu của một đất nước có nhiều tộc người. Mỗi vùng lại được hình thành từ những tiểu vùng vãn hóa khác nhau. Mỗi một vùng, một khu vực đóng góp một nét riêng trong bức tranh tổng thể về Văn hóa Việt Nam. Việc phân loại và xác định số lượng các vùng vãn hóa và các đặc điểm, cũng như giới hạn địa lý của mỗi vùng còn có sự khác biệt giữa các nhà nghiên cứu về văn hóa. về mặt tổng quan, Việt Nam có từ 6 đến 9, thậm chí 19 vùng văn hóa khác nhau (Hồ Liên 2008), tùy thuộc vào phương pháp phân loại của tác giải .
• Tổng quát
Dựa trên các nghiên cứu đã có và ticn trình phát triển của vãn hóa Việt Nam, chúng ta có thể xây dựng được một vài đặc điếm cơ bản của vãn hóa Việt Nam. Đặc tính đó có thê không phải thuộc sở hữu duy nhát của dân tộc Việt, nhưng đó là yếu tô cơ bản tạo nên các nét đặc trưng của văn hóa việt nam.
Trước hết, có thể thấy điếm nối bật đó là phương cách ứng xử mểm déo và linh hoạt. Đặc tính này được thể hiện cá đối với thiên nhiên, đối với các yếu tô bên ngoài. Xuất phát từ dặc điểm thiên nhiên khắc nghiệt, đòi hói con người làm nông nghiệp phải có cung cách ứng xứ linh hoạt trong mối quan hệ với yếu tố thiên nhiên. Từ đó trong tâm thức người Việt có khuynh hướng nương nhờ, thuận theo tự nhiên mà không chiếm lĩnh, chinh phục tự nhiên. Hình thành lối sống lấy quan điểm hòa thuận, gắn bó với tự nhiên là chủ đạo. Điều này có thế thấy rõ trong sự gắn liền của ngôi nhà sàn hình thuyền người Việt với với đặc điểm môi trường sõng nước bản địa hoặc các nguyên tắc trong kiến trúc.

 Các vùng vân hóa của Việt Nam 1

Đối với các yếu tố văn hỏa ngoại lai, phương cách ứng xử đó thế hiện ớ sự dung nạp và bán địa hóa các yếu tô van hóa bên ngoài. Điéu này được thê hiện rõ qua sự chuyển hoá các ảnh hưởng của vãn hóa Trung Hoa vào vãn hóa bán địa. Cách ứng xử linh hoạt này được tác giả Trần Ngọc Thêm (2001) gọi là dung hợp trong tiếp nhận, mềm déo hòa hiếu. Giáo sư Cao Xuân Huy đưa ra một ý tướng giàu ngữ nghĩa vể phép ứng xứ mềm mại này của người Việt: Triết lý nước hay Nhu đạo, linh động và sinh động, không cô định theo một dạng thức cố định nào. Còn theo Trần Quốc Vượng, đó là khá năng ứng biến của sự “không chối từ” trong văn hóa Việt (2003, trang 36). Còn tác giả Phan Ngọc gọi đó là khả năng ráp nối, thông qua độ khúc xạ vãn hóa, để “chắp nối từ nhiều nguồn gốc rất khác nhau nhưng tạo nên một thể thống nhất hữu cơ kì diệu”, (2005, trang 133). Đó là khả nãng tạo lập mối liên hệ mà ông gọi là nghệ thuật bricolage (lắp ráp) của vãn hóa Việt Nam.
Trong mối quan hệ xã hội, nổi bật lên là tính cộng đồng đoàn kết đặc biệt, dựa trên hình thức quan hệ công xã nông thôn Việt Nam. Đây là sản phẩm của nền văn minh nông nghiệp, được xem như đặc trưng của văn minh Việt Nam. “Nếu quốc gia Hy lạp cổ đại là liên minh của những đô thị, thì quốc gia Việt Nam là liên minh của những làng xã (Vũ Khiêu, 2000, trang 65). Mỗi làng xã là một đơn vị độc lập, tồn tại tự trị trong phạm vi của quốc gia. Trong hình thái quan hệ đó, cộng đồng được đặt cao hơn cá nhân, dẫn đến nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng. Theo tác giả Chu Xuân Diên, trong bối cảnh đó giá trị của cá nhân được đánh giá bằng mức độ trung thành với cộng đồng, dẫn đến ưa chuông sự ổn định, tôn trọng những giá trị truyền thống sẵn có (Hồ Liên 2008).
Văn hóa làng xã là nền tảng của vãn hóa Việt Nam, tạo thành đặc điểm nhận dạng của người Việt. Từ tính cộng đồng làng xã, đã biến thể thành tính dân tộc, về Tổ quốc luận trong mỗi người Việt. Ý thức này mạnh đến mức chi phối ngược lại tất cả các học thuyết tư tưởng ngoại nhập, từ Nho, Phật đến Đạo (Phan Ngọc, 2001).
Cũng xuất phát từ bối cảnh các mối quan hệ đa phương trong cộng đồng, người Việt có cách nhìn nhận vấn đề thiên về tổng thể hơn về bộ phận, tư duy cái chung hơn về cái riêng. Theo giáo sư Chu Xuân Diên, “thao tác tư duy của khuynh hướng này thiên về tổng hợp hơn là về phân tích, được gọi là tư duy cầu tính, đối lập với tư duy tuyến tính” (Hồ Liên, 2008, trang 111). Còn tác giả Trần Ngọc Thêm (2001) gọi đó là lối tư duy Tổng hợp – Biện chứng của nền văn minh nông nghiệp. Từ lối tư duy tổng hợp này nảy sinh ra lối diễn tả mang tính biểu trưng, ước lệ trong nghệ thuật ngôn từ, nghệ thuật thanh sắc đến nghệ thuật hình khối của người Việt Nam.