+ Hình thức Thuộc địa (Colonial)
Loại này xuất hiện xuyên suốt châu Á trong những thành phô thuộc địa và các cảng nhượng địa có người châu Âu định cư làm ăn từ thê kỷ XVIII. Nó bao gồm những cóng trình kiếu mới như các vãn phòng và nhà kho xây dựng cho các công ty buôn bán, cũng như các tiện nghi ăn ở và giải trí cho những người nước ngoài giàu có. Rất nhiểu công trình đã không còn tồn tại do không có những đặc diêm nổi trội và thường xây dựng đơn giản. Cái được gọi là những công trình kiểu “thuộc địa hành lang bao quanh” là những công trình tiêu biểu của loại này, chúng thường được xây dựng bới những nhà đo đạc và các kỹ sư xây dựng (thay vì các “kiến trúc sư”) từ châu Âu và Mỹ, họ là những người chu du rất nhiều và di chuyển tự do giữa các thành phô thuộc địa ở Đông Nam Á và các cảng nhượng địa của Trung Quốc và Nhật Bản. Đê thích nghi với khí hậu địa phương bằng việc tăng cường sử dụng các kết cấu mái hiên, các công trình này là minh chứng cho khả năng đồng hóa cúa kiến trúc phương Tây với những yếu tố không phải của họ.
Ví dụ: Nhà cho thợ chạm khắc (Nagasaki – Nhật Bản), Hội đồng Anh (Yên Đài – Trung Quốc).

+ Hình thức Lai ghép (Hybrid)
Khi sô’ người phương Tây gia tăng trong các thành phố thuộc địa và các cảng nhượng địa (cùng với những người Trung Quốc ở Đông – Nam Á), họ bắt đầu thay đổi cách sống và làm việc của người dân bản địa trong các khu đô thị cũng như các vùng lân cận. Do vậy, xuất hiện những phong cách kiến trúc lai ghép mới đáp ứng được sự thay đổi của những điều kiện mới. Phản ánh tính chất quốc tế của nền vãn hóa thuộc địa, kiến trúc không còn là sự sao chép một cách tò mò những chi tiết bề mặt, mà bắt đầu có sự liên kết với các kỹ thuật xây dựng của phương Tây. Ví dụ như ớ Singapore có sự xuất hiện của kiến trúc nhà kết hợp cửa hàng của những người định cư Trung Quốc, trong khi ớ Thái Lan kiểu nhà nâng sàn được thay đổi phù hợp với cuộc sống hiện đại hơn. Kiểu nhà “Baba Nyonya” của Malaysia và “Kindai Wafuu” của Nhật Bán (kiểu nhà hiện đại của người Nhật) trong thế kỷ XX cũng là những ví dụ khác cho những nhu cầu kiến trúc trên.

+ Hình thức Làm nổi vị thế của Nhà nước (Emerging Nation State)
Được minh họa trong trường hợp của Nhật Bản, khi đang hình thành một chính quyền kiểu mới theo phong cách phương Tây, một số chính phủ phương Đông mời các kiến trúc sư từ châu Âu và Mỹ thiết kế những công trình thực sự là công trình của phương Tây (phần lớn là phong cách Tân – cổ điển và Tân – Barocco) như là biểu tượng của sự hiện đại và lòng quyết tâm thay đổi của họ. Đó là những công trình như các lâu đài, các dinh thự của chính phủ, các cơ quan thể chế và các nhà ở cho tầng lớp quý tộc. Nếu Nhật Bản thuê kiến trúc sư người Anh Josiah Conder thiết kê những công trình mới cũng như đào tạo thế hệ kiến trúc sư đầu tiên ở Trường đại học Hoàng gia mới, thì Thái Lan mời
các kiến trúc sư người Italia và Đức, còn người Nga thì đến Triều Tiên như những cố vấn nước ngoài. Trong khi ở Trung Quốc, từ cuối đòi Minh đến đấu giai đoạn Cộng hòa, rất nhiều kiến trúc sư châu Âu, Mỹ và Nhật Bán đã tham gia thiết kế các công trình công cộng và thương mại trong các thành phố cảng nhượng địa. Ngoài ra, trong phong cách kiến trúc này còn bao gồm rất nhiều công trình là di sản của nền công nghiệp như đường sắt và máy móc.

+ Hình thức Cải biên hiện đại (Modern Adaptation)
Khi mà lối sống vẫn duy trì sự thay đổi theo công nghệ hiện đại và sự thay đối trong cơ cấu xã hội (tập trung nhiều vào đô thị hơn, sự phát triển của tầng lớp trung lưu,…), kiến trúc truyền thống châu Á cũng tự động thích nghi mà không cần sự tác động trực tiếp của bên ngoài (ví dụ phương Tây). Đó là những “khách sạn” trong thế kỷ XX ớ Bắc Kinh, phát triển từ kiểu nhà ở có sân trong, hay có tổ hợp nhà ớ có sân trong cuối thế kỷ XIX được sử dụng như nhà trọ có sân giữa rộng (Caravanserai).

+ Hình thực Đế quốc (Imperialist)
Phương Tây, nhờ vào sức mạnh của người Anh và Nhật, đô hộ hầu hết châu Á từ những năm 1870 đến những năm 1940. Những tên thực dân cai trị thường tạo ra các công trình đồ sộ và đôi khi cả những thành phô mới nhằm phô trương sức mạnh và quyền lực, cũng như nâng cao điều kiện sông, chủ yếu là cho bản thân chúng. Những công trình xây dựng này cũng bao gổm cả các khu bến cảng, xe lửa và công trình giao thông. Dù Tân – cổ diển và Tân – Barocco là xu hướng tất yếu, Art nouveau (Nghệ thuật mới) thỉnh thoảng cũng xuất hiện như dấu hiệu của “hiện đại” trong những nơi như Cáp Nhĩ Tân, Thanh Đảo và Arts Déco (Nghệ thuật trang trì) ở Bandung. Vì những cóng trình này đa phần là kết quả của chế độ thuộc địa trong quá khứ, nên nhiều nước châu Á không nhiệt tình trong việc bảo tồn chúng. Quyết định của chính phú Hàn Quốc nãm 1996 phá hủy dinh thự tuyệt vời theo phong cách Tân – Phục hưng mà người Nhật xây dựng dùng làm Phủ Toàn quyển, là sự biếu thị cảm nghĩ điên hình của các nước châu Á. Tuy nhiên, vần còn tồn tại rất nhiều ví dụ về thiết kế đô thị và phong cảnh thuộc thế loại này ớ châu Á.

+ Hình thức Có giáo dục (Educated)
Bát đầu từ Nhật Bản trong những năm 1870, một số nước châu Á khác như Trung Quốc (đầu thế kỷ XX) và Thái Lan (những năm 1930) bắt đầu có những kiến trúc sư được đào tạo theo kiểu phương Tây ở các thuộc địa, các trường đào tạo kỹ sư xây dựng hạng trung đã được thành lập, từ đây một số kiến trúc sư bản địa đã nổi lên. Do đó phương Tây trở thành tiêu chuẩn cho đào tạo kiến trúc trong cả các nước chính thức cũng như không chính thức bị đô hộ của châu Á, bao gồm cá Nhật Bán. Các kiến trúc sư này cũng thuyết phục những người khác theo khuynh hướng châu Âu qua việc đọc các tạp chí kiến trúc phương Tây và du học. Họ làm việc có thê không năng động như những đồng nghiệp phương Tây đương thời, nhưng tính nổi bật lịch sử của họ không thế không bàn cãi trong mỗi khu vực.

+ Hình thức Dân tộc (National)
Khi các quốc gia mới của người châu Á tồn tại với những kiến trúc sư được đào tạo cúa họ, họ bắt đầu tạo ra lịch sử kiến trúc của bản thân, do đó dẫn đến phong cách kiến trúc mang tính dân tộc. Cũng như các nước Đông Âu, Trung Âu và bán đảo Scandinavia, các tượng đài lãng mạn nghệ thuật/kiến trúc mọc lên trong nửa cuối thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX ở châu Á, nơi mà phong cách kiến trúc mới mang tính dân tộc được sáng tạo ra với tham khảo từ lịch sử của kiến trúc phương Tây và thậm chí cả phong cách “Lấn chiếm” (Usurpation) và “Lai ghép” (Hybrid) của thời kỳ thuộc địa. Khi xu hướng này phát triển mạnh ở Nhật Bản trong nửa thế kỷ XX và một lần nữa trong đầu thập kỷ 1940, Trung Quốc và Thái Lan trong những nãm 1920, những nước châu Á khác chỉ trải qua khi đã giành độc lập sau Thế chiến thứ hai. Sau chiến tranh, kiến trúc hiện đại thay thế kiến trúc Past historicist, đóng vai trò cơ sở cho việc diễn đạt tính dân tộc. Việc
Nehru, Le Corbusier xây Cung Tư pháp có thê coi như một phần của sự cô gắng tạo ra nển kiến trúc mới cho đất nước Ân Độ hiện đại.

+ Hình thức Cliiến tranh lạnh (Cold War)
Sau Thế chiến II, vì hầu hết các nước châu Á thuộc phe của Mỹ hoặc Liên Xô nên chú yếu họ mời kiến trúc sư và nhà quy hoạch cúa hai nước này. Mẫu kiến trúc trong thời kỳ chiến tranh lạnh được du nhập qua những cố vấn nước ngoài cũng như các sinh viên du học. Do vậy, ví dụ cúa Trung Quốc, kiến trúc trong những năm 1950 (còn gọi là phong cách Mao) chủ yếu bị ảnh hướng bới kiến trúc Liên Xô, trong khi đó các mô hình quy hoạch và phong cách kiến trúc Hilton của Mỹ lại du nhập vào các nước châu Á thuộc ánh hướng như Philippin. Phong cách này có thể coi như một phần của kiến trúc đế quốc nếu tập trung vào vai trò chi phối của Mỹ và Liên Xô, nhưng mặt khác, chúng ta có thể coi đây là một kiêu của kiến trúc dân tộc nếu nhấn mạnh đến vai trò của các kiến trúc sư địa phương. Ớ đây chúng ta đặt riêng ví dụ kiến trúc và quy hoạch trước chiến tranh sang phân loại riêng bởi vì những ví dụ gần đây đang trong tình trạng nguy hiểm của việc bỏ bê và phá hoại do những mối quan hệ mới.