1. Tiền sử
Hiện nay thời tiền sử Đông Nam Á đang còn được nghiên cứu và khám phá. Theo những kết luận ban đầu của khảo cổ thì những di tích cư trú của con người trong những hang động có niên đại khoảng 10.000 nãm trước Công nguyên. Những nghiên cứu về khu vực này cho rằng cả nước và khí hậu nhiệt đới ẩm cùng những biến động trái đất thời Tiền sử đã phá huỷ nhiều di tích của người Đông Nam Á đầu tiên. Họ cho rằng công cụ của người Tiền sử Đông Nam Á làm bằng chất liệu dễ hỏng nên không để lại nhiều dấu vết, thậm chí chữ viết cũng được viết lên những miếng lá cọ nên dễ bị hỏng và không lưu lại được.
Những vết tích tìm thấy hiện nay đã cho thấy rằng việc trồng trọt và chê tác đồ gốm đã phổ biến cách đây khoảng 3.000 – 2.000 năm trước Công nguyên. Những di chỉ ớ cao nguyên Khorat của Thái Lan cho thấy rằng xã hội nông nghiệp đã phát triển ờ đây khoảng 3000 năm trước Công nguyên và du nhập nghể chế tạo kim loại, các khu định cư mở rộng và có những hào nước bao quanh cùng với những kênh dẫn nước, hồ chứa nước cho việc phát triển lúa nước. Thời kỳ đồ đồng ở Đông Nam Á cũng tương dương với thời kv đồ đồng ở châu Âu, theo một số di tích thì khoảng 2.000 – 500 nãm trước Công nguyên người dân lục địa Đông Nam Á đã bắt đầu sử dụng đồ đồng và nhiều thế hệ sau là sử dụng đồ sắt. Thời gian này đã có sự giao thương với Trung Quốc và Ân Độ, nên người ta cũng chưa khẳng định được đồ đồng được phát triển độc lập hay được du nhập từ các quốc gia này. Một thành tựu nổi bật của chế tác đồng Đông Nam Á là trống đồng Đổng Sơn. Đây là sản phẩm tinh xảo trở thành thương phẩm và của gia bảo, khoảng 200 chiếc đã được tìm thấy ở khắp Đông Nam Á.
Sự giao thương từ thời Tiền sử đã rất phát triển, không bị hạn chế trong giới hạn Đông Nam Á bắt đầu khoảng nửa sau thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên. Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng những quốc gia đầu tiên giao thương với khu vực Đông Nam Á là Trung Quốc và Ân Độ, và cũng từ đây vãn hoá Ân Độ, Trung Quốc đã du nhập vào nhiều mặt đời sống xã hội của khu vực Đông Nam Á.
– Các Vương quốc cổ
Các Vương quốc cổ Đông Nam Á được hình thành khoảng thế kỷ 5 sau Công nguyên và chia thành hai nhóm: các quốc gia lục địa và các quốc gia gần biển.
Các quốc gia lục địa lấy hoạt động nông nghiệp làm kinh tế chính, với việc điểu khiển nguồn nước và kỹ thuật trồng trọt, phát triển cây lúa nước. Ví dụ như Ayutthaya, nằm ở đồng bằng sông Chao Phraya và Đế chế Khmer ở Tonle Sap.
Các quốc gia gần biển lấy hoạt động thương mại trên biển làm kinh tế chính như Malacca và Srivijaya.
-Thực dân xâm chiếm
Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã nhòm ngó đến Đông Nam Á từ thế kỷ XVI, nhận thấy đây là khu vực có nhiều tài nguyên, có vị trí thuận lợi vể giao thương nên các nước phương Tây đã tìm mọi cách xâm nhập khu vực Đông Nam Á. Lúc ban đầu họ chú ý đến những quốc gia hải đảo với nhiều tiểu quốc Hồi giáo, quan trọng nhất là vương quốc Malacca. Cường quốc đầu tiên thâm nhập vào con đường thương mại Đông Nam Á là Bổ Đào Nha, sau khi xâm chiếm quốc gia Hồi giáo Malaya năm 1511. Sau khi xâm lược Malacca, Bồ Đào Nha đã có một cơ sở buôn bán ớ eo biển Malacca và bành trướng đến các đảo hương liệu ở Đông Indonesia – nơi duy nhất trên thế giới trồng được đinh hương và nhục đậu khấu lúc đó. Sau đó thì Hà lan và Tây Ban Nha tiếp bước, Hà Lan chiếm lại Malacca từ Bồ Đào Nha năm 1641, Tây Ban Nha xâm chiếm Philippines những năm 1560. Hà Lan đã lập ra công ty Đông Ân Hà Lan và thành lập phố Batavia (nay là Jakarta) để làm cơ sớ thương mại và thâm nhập sâu rộng ra những vùng lãnh thổ lân cận. Tây Ban Nha thì không quan tâm nhiều đến sản vật mà xây dựng một hệ thống thương mại bằng tàu thuyền lớn, tập trung vào thành phố thủ đô Manila, từ bến cảng này họ giao thương hàng hóa với Trung Quốc. Năm 1811, nước Anh cũng nhảy vào thị trường thuộc địa Đông Nam Á dưới hình thức công ty Đông Ân Anh, tuy có muộn hơn so với các nước kia nhưng lại phát triển nhanh chóng và trở thành một cơ sớ kinh tế lớn cho người Anh. Giữa Anh và Hà Lan có hiệp ước phân chia thị trường Đông Nam Á vào năm 1824. Anh đẩy mạnh giao thương với Trung quốc và Ân Độ.
Từ những năm 1850 trở đi, nhịp độ thực dân hóa được đẩy mạnh với tốc độ lớn. Dần dần các cường quốc đã xâm chiếm hầu như toàn bộ các nước Đông Nam Á. Năm 1913, người Anh đã chiếm các lãnh thổ Burma, Malaysia và Borneo, nước Pháp kiếm soát Đông Dương, Hà Lan cai trị Đông Ân của Hà Lan, Hoa Kỳ chinh phục Philippines từ tay người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vẫn giữ được vùng Timor.

Các giai đoạn phát triển chính của Đông Nam Á 1

Sự xâm chiếm của các nước đế quốc đã ảnh hưởng sâu rộng đến các nước Đông Nam Á trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị, văn hoá… Kinh tế thương mại, mỏ quặng, xuất khẩu nhanh chóng phát triển dẫn đến nhu cầu về nhân công, dẫn đến sự nhập cư cực lớn từ Trung Quốc, Ân Độ. Các hình thức mới đã xuất hiện như tòa án và phương tiện truyền thông, in ấn, giáo dục hiện đại… đã gieo hạt ở các quốc gia Đông Nam Á. Các nhà truyền giáo cũng xâm nhập và truyền bá các loại tôn giáo và vãn hoá vào các quốc gia. Có thể nói có sự thay đổi lớn về mọi mặt trong cuộc sống các nước Đông Nam Á.
Tuy nhiên, bản chất của việc người phương Tây xâm nhập vào Đông Nam Á là xâm chiếm thuộc địa, bóc lột, đàn áp các dân tộc đẻ đạt được lợi ích kinh tế do vậy chiến tranh xảy ra giữa hai thế lực áp bức và bị áp bức là việc không thể tránh. Phong trào giải phóng đất nước của các dân tộc Đông Nam Á diễn ra gay go, quyết liệt trong thời gian dài và kết quả cuối cùng là các nước Đông Nam Á đều giành được quyền tự chủ. Các đế quốc châu Âu đã đối mặt với một Đông Nam Á hoàn toàn khác sau cuộc chiến. Indonesia tuyên bố độc lập ngày 17 tháng 8/1945 và sau đó tiến hành một cuộc chiến ác liệt chống lại những người Hà Lan đang tìm cách quay trớ lại; Philippines độc lập năm 1946; Burma lấy lại độc lập từ tay người Anh nãm 1948; Việt Nam tuyên bố độc lập vào năm 1945 và Pháp hoàn toàn bị hất cẳng khỏi Đông Dương nãm 1954. Anh đã trao lại độc lập cho Malaya và sau đó là Singapore, Sabah và Sarawak nãm 1957 và 1963 bên trong khuôn khổ Liên bang Malaysia. Việt Nam, Lào và Campuchia phải trải qua một cuộc chiến lâu dài trên con đường giành lại độc lập, đến năm 1975 mới hoàn toàn giành thắng lợi. Năm 1975, sự cai trị của người Bồ Đào Nha ở Đông Timor chấm dứt. Nãm 1984 đánh dấu mốc lịch sử chấm dứt thời kỳ cai trị của các đế quốc châu Âu trên lãnh thổ Đông Nam Á khi Anh chấm dứt sự bảo hộ đối với đất nước Hồi giáo Brunei.
– Đông Nam Á hiện tại
Đông Nam Á hiện nay là các quốc gia độc lập với tốc độ tăng trướng kinh tế mạnh mẽ và có quan hệ giao lưu toàn cầu. Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore được coi là các nước phát triển kinh tế trong khu vực, Việt Nam phát triển muộn hơn và đang trong giai đoạn bùng nổ kinh tế, các nước như Lào, Campuchia, Myanma, Đông Timor được coi là các quốc gia đang phát triển, đang còn trì trệ.
Hiện nay, trừ Đông Timor thì các quốc gia khác đểu tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ nhiều mặt của các nước này.
1. Việt Nam
2. Thái Lan
3. Lào
4. Campuchia
5. Myanma
6. Singapore
7. Indonesia
8. Malaysia
9. Philippines
10. Brunei
11. Đông Timor