• Điểm mốc chiến lược của quá trình Nam tiến
Các nghiên cứu lịch sử về nguồn gốc của Sài Gòn còn thuộc phạm vi giả định chưa rõ ràng. Các cuộc khảo cổ cho thấy sự xuất hiện của con người xuất hiện ở khu vực này từ khá lâu cùng với các nền văn hóa Sa Huỳnh, Óc Eo và những kỹ thuật canh tác của nền vãn minh nông nghiệp. Vùng đất này trong lịch sử lần lượt là bộ phận của các vương quốc Phù Nam, Chân Lạp. Tuy nhiên khu vực vẫn là một khu đất hoang hóa, không có một hệ thống chính quyén quản lí thực sự. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn đã miêu tả khu vực này như một “vùng rừng rậm trải dài hàng nghìn dặm tiếp giáp với Cửa Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Tiểu, Cửa Đại”. Tại đây chỉ lác đác có sự tồn tại độc lập của một vài sắc dân thiểu số bản địa như Khmer, Chăm, Ché Mạ, Mnông… Như vậy trong suốt quãng thời gian hơn 1000 nãm, khu vực này gần như không có cư dân và nhất là không hề được khai phá (Philippe Peycam 1998).
Đến đầu thế kỷ 17, vùng đất này mang tên Prei Nokor , nằm trong vùng tranh chấp giữa hai vương quốc Chân Lạp và Chiêm Thành. Nãm 1620, vua Chân Lạp là Chậy Choetha II đã xin cưới con gái Sãi vương Nguyền Phúc Nguyên. Kê từ đó, khu vực Sài Gòn, Đồng Nai bắt đầu xuất hiện những người Việt định cư. Năm 1674, Hiền vương Nguyễn Phúc Tần sai Nguyễn Dương Lâm đánh đồn binh Cao Miên ớ Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang. Lần đầu tiên, địa danh Sài Gòn xuất hiện trong sử sách. Đến cuối thê kỷ XVII, khi Dương Ngạn Địch dẫn hơn 3000 người Hoa xin tị nạn, Hiền vương đã cho phép cộng đồng này đi khai khẩn vùng Đồng Nai, Biên Hòa . Đây là một quyết định sáng suốt sau này được lịch sử chứng minh vể tính chiến lược của nó (Sơn Nam, 2004).

Sài Gòn giờ đây đã thực sự trở thành một trung tâm chính trị có tính chiến lược của miền Nam. Để phát triển khu vực mới khai phá, triều đình nhà Nguyễn đã cho phép những chính sách kinh tế đặc biệt mềm dẻo, phép tắc khoan dung, thuế luật giảm nhẹ. Với sự phát triển khai hoang các vùng đất thuộc đồng bằng sông Cửu Long đã biến Sài Gòn trở thành một trung tâm thương mại lớn của khu vực với sự xuất hiện của các thuyền buôn nước ngoài và sự tãng vọt của làn sóng di dân. Các nhu cầu về kinh tế thương mại là động lực chính hình thành nên đô thị Sài Gòn. Khu vực nội thành Sài Gòn lúc bấy giờ được bao bọc bởi các rạch Bến Nghé và Thị Nghè có diện tích khoảng 30km2.
• Quá trình hình thành và phát triển vùng đại đô thị Sài Gòn
Nãm 1859, người Pháp đổ bộ xâm chiếm Sài Gòn, một năm sau đó, cảng Sài Gòn được mớ rộng cho các hoạt động thương mại. Kể từ đây, thành phố chứng kiến một làn sóng di dân mới, với đủ loại người, từ châu Âu đến châu Á. Bản quy hoạch đầu tiên của thành phố được lập năm 1861 do kỹ sư công binh Coffyn thiết kế. Với tham vọng đào con kênh mới được thiết kế nối liền kênh Bến nghé và Thị nghè, đồ án kết hợp hai khu Sài Gòn và Chợ Lớn vào một thế đô thị thống nhất. Bất chấp hiện trạng kênh rạch chằng chịt, hệ thống đường sá trong quy hoạch lại được thiết kế vuông góc với nhau. Tuy nhiên đồ án này không thực hiện được và việc đào kênh bị dừng lại. Trong đồ án quy hoạch lúc đó, Coffyn học tập theo mô hình phát triển của Alger và Singapore với 4 khu chức năng riêng biệt: hành chính, thương mại công nghiệp và nhà ở. Để thúc đẩy sự phát triển, nhà cầm quyền đã tổ chức các cuộc đấu giá đất đai khá quy củ cho các nhà buôn. Đây là một ý tướng hết sức thực dụng trong điều kiện kinh tế khó khăn của nhà cầm quyền lúc đó. Tuy nhiên điều này cũng tạo ra hiện tượng đầu cơ đất đai tại những khu vực trung tâm. Một hậu quả mà di chứng của nó kéo dài vài thế kỷ sau này (Francois
Tainturier, 1998). Với hệ thống đường sá và các quảng trường thoáng đãng trong đồ án của Coffyn, có thể thấy rõ ánh hướng của đồ án cải tạo Paris của nam tước Eugène Haussmann cùng thời.
Nhằm củng cô’ bộ máy chính quyền thuộc địa, một loạt các công trình hành chính được xây dựng như dinh thống đốc, nha nội vụ, tòa án, tòa thượng thẩm, tòa giám mục… Tuy nhiên đó mới chỉ là các kiến trúc tạm bợ bằng gỗ và xa lạ với khí hậu nhiệt đới bản địa. Nãm 1879, vị toàn quyền dân sự đầu tiên Charles le Myre de Viliers đến nhận nhiệm sớ. Trong nhiệm kì 4 năm của mình, ỏng đã tập trung phát triến các công trình công cộng và các hoạt động kinh tế với nhịp độ xây dựng các công trình diễn ra mạnh mẽ. Sơ đồ không gian trung tàm của thành phố được hình thành. Khu vực cao dành cho các hoạt động hành chính với người châu Âu, đối lập với khu vực trũng dành cho các hoạt động thương mại của người châu Á. Một bên là kiến trúc hoành tráng của không gian đô thị với các diêm mốc phô trương, một bên là khu vực chật hẹp với mật độ xây dựng cao. Tuy nhiên, dây là một sự phát triển lệch lạc. Việc phát triển lại chí tập trung ờ vẻ phò trương cúa không gian đô thị mà thiếu vắng các hệ thống cơ sớ hạ tầng cần thiết cùa xã hội. (Francois Tainturier, 1998). Nguyên nhân của vấn đề nằm ớ cơ chế quán lý chổng chéo về kiến trúc dẫn dến sự đụng chạm với giới tư bán địa ốc (Nguvẻn Hữu Thái, 1998). Chính vì điều này mà có sự khác biệt cơ bán giữa Hà Nội và Sài Gòn. Nếu như ở Hà Nội, các quyết sách về đô thị tập trung thống nhất vào tay các nhà chính trị thì ớ Sài Gòn, điều này lại nằm trong tay tầng lớp tư sản.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, tại Sài Gòn xuất hiện một làn sóng di dân thu hút khoảng 20% dân số nông thôn phía Nam. Đến năm 1956, thành phố lại tiếp nhận thêm một đợt di dân mới từ miền Bắc. Nhà báo Robert Shaplen của tờ New Yorker đã để lại trong phóng sự viết năm 1972: “Đến 1963, dân số đô thành Sài Gòn đã lên tới 2,2 triệu và từ đó mỗi năm mỗi tăng vọt do dỏng người từ nông thôn chạy về tị nạn. Từ 1965, có khoảng 3,5 triệu người đã trở thành dân tị nạn và hai triệu trong số đố đã chạy về các thành phô’. Trong dân số Nam Việt Nam, khoảng 19 triệu, thì có đến một nửa đã trở thành thị dân, trong khi trước chiến tranh có dến 80% dân sống ở nông thôn.

Khu vực Đông và Nam Sài Gòn vốn là những vùng đất thấp, trũng, tốn kém trong đầu tư cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên đầu những nãm 50, đứng trước nhu cầu của thành phố, người ta đã cân nhắc đến việc sử dụng bán đảo Thủ Thiêm. Khi đó, kiến trúc sư Hoàng Hùng
là Bộ trưởng Kiến thiết của chính quyển Sài Gòn có đề xuất phương án quy hoạch khu hành chính văn hóa Thủ Thiêm thay thế khu hành chính Sài Gòn cũ của Pháp. Do thiếu kinh phí nên phương án không triển khai được. Năm 1964, được sự trợ giúp của Mỹ, chính quyền Sài Gòn đã thuê hãng thiết kế Hy Lạp Doxiadis Associates về lập quy hoạch phát triển. Lần đầu tiên một nghiên cứu chi tiết dài hạn về không gian đô thị của khu vực đại đô thị Sài Gòn trong vòng 20 – 30 năm tiếp theo. Theo báo cáo của Doxiadis, mật độ cư dân của Sài Gòn lúc đó khoảng chừng 29000 người/km2, xếp loại cao nhất thế giới thời bấy giờ (Dennis A. Rondinelli, 1973). Vì vậy ông đề xuất loại bỏ mô hình đô thị hướng tâm cổ điển, xây dựng các trung tâm đô thị động phát triển dạng tuyến, theo hướng Bắc Sài Gòn. Bán đảo Thủ Thiêm chỉ xây dựng các công trình có chiều cao thấp dưới 4 tầng. Nhưng do chiến tranh bước vào giai đoạn ác liệt nên phương án bị bỏ quên (Nguyễn Hữu Thái, 1988). Cho đến nãm 1966, theo kê hoạch phát triển dài hạn khác của ủy ban kế hoạch hậu chiến Nam Việt Nam (South Vietnamese postwar planning group), đứng đầu là Vũ Quốc Thức và David Lilienthal, chính quyền Việt Nam cộng hòa nên tập trung phát triển kinh tế ở các vùng nông thôn. Một mặt các nghiên cứu của ủy ban này thừa nhận vị trí chủ đạo của vùng đại đô thị Sài Gòn trong kinh tế Nam Việt Nam. Mặt khác, nó đề xuất nên hạn chế sự phát triển của Sài Gòn bằng cách phàn tán (decentralized) dân sô và các hoạt động kinh tế vì sự quá tải. Một nghiên cứu khác của viện Brookings và Bộ Ngoại giao Mỹ kiến nghị Sài Gòn phải có một chiến lược giải tỏa đô thị và tái định cư cho người dân (de-urbanization and resettlement).
Ngược lại với sự phát triển không may mắn của quy hoạch Sài Gòn thời bấy giờ thì kiến trúc công trình lại có những thành tựu nổi bật hơn. Đó là sự hình thành của một phong cách kiến trúc nhiệt đới, khởi nguồn từ các thiết kế của Hébrad. Mặc dù sử dụng mặt bằng kiểu phương Tây, nhưng các công trình lại được đậy mái che chắn có độ dốc lớn và hàng hiên rộng. Dần dần, đó là sự xuất hiện của các lam chớp chắn nắng nhiệt đới được vận dụng nhuần nhuyễn vào công trình kết hợp với các vật liệu của kiến trúc hiện đại như bêtông, thép, kính. Có một số công trình nổi bật có giá trị cao. Với nhà cao tầng chúng ta có Ngân hàng Việt Nam Thương tín và Cao ốc số 8 Nguyễn Huệ. Hai công trình này thể hiện dáng vẻ hiện đại, xử lí chi tiết công phu. Thư viện Sài Gòn (KTS. Nguyễn Đức Thiện) có sự kết họp giữa vẻ hiện đại và tính truyền thống trong kiến trúc.
Trên đây là một số tác phẩm của các kiến trúc sư Việt Nam, còn các kiến trúc sư Mỹ cũng đã để lại một số tác phẩm đáng chú ý như Trường đại học Y khoa Sài Gòn và Trường kỹ thuật Thủ Đức và các kiến trúc sư Nhật cũng đã xây dựng Bệnh viện Chợ Rẫy.
Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước, miền Nam và Sài Gòn hòa nhập vào nhịp sống chung của đất nước với những khó khăn của thời kì bao cấp, thêm vào đó là lượng dân số giảm đi đáng kể nên thành phố gần như không có nhu cầu phát triển. Bù lại vào đó là quá trình cải tạo lại hệ thống hạ tầng nội đô, với các công trình phúc lợi xã hội. Nhận xét về giai đoạn này, kiến trúc sư Lưu Trọng Hải viết: “Mười năm sau ngày giải phóng, không phải là thời kì phát triển kiến trúc ở thành phố Hồ Chí Minh, song thực ra ta đã xây dựng không ít, nhất là các cơ sở hạ tầng xã hội. Kiến trúc lúc bấy giờ chỉ mới đáp íữig được nhu cầu bức xúc của xã hội chứ các mặt kỹ thuật, nghệ thuật, tổ chức không gian đô thị… đều chưa được đầu tư đầy đủ (Lưu Trọng Hải, 2002, 255).